Phân khúc bất động sản trung cấp: Vẫn khó đáp ứng nhu cầu

07:00 | 28/10/2019

Ông Nguyễn Văn Đính - Phó Tổng thư ký Hiệp hội BĐS Việt Nam cho rằng, thị trường Hà Nội đang ở trong tình trạng bão hòa về đầu tư căn hộ, chủ yếu chỉ có người tiêu dùng mua chứ không có đầu tư đầu cơ.

Mặc dù là phân khúc được “săn đón” nhiều nhất trên thị trường BĐS từ đầu năm đến nay, nhưng hiện rất khó để có thể tìm một căn hộ chất lượng với mức giá dưới 2 tỷ đồng ở Hà Nội. Giới phân tích đánh giá phân khúc hạng B sẽ tiếp tục là tâm điểm của thị trường cuối năm

Theo báo cáo của Hiệp hội BĐS Việt Nam, giá bán của phân khúc BĐS trung cấp (hạng B) tại thị trường Hà Nội tiếp tục đi ngang từ đầu năm đến quý III/2019 với mức là 29,1 - 29,3 triệu đồng/m2. Các giao dịch thành công chủ yếu vẫn là khách hàng có nhu cầu sử dụng thực.

Ông Nguyễn Văn Đính - Phó Tổng thư ký Hiệp hội BĐS Việt Nam cho rằng, thị trường Hà Nội đang ở trong tình trạng bão hòa về đầu tư căn hộ, chủ yếu chỉ có người tiêu dùng mua chứ không có đầu tư đầu cơ.

Dù vậy, nhưng phân khúc căn hộ hạng B vẫn “dậy sóng” khi nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu. Thực tế, khoảng 70% nhu cầu nhà ở trên thị trường hiện nay thuộc phân khúc căn hộ mức giá dưới 2 tỷ đồng. Tuy nhiên, phân khúc sản phẩm này càng trở nên khan hiếm trong vài năm trở lại đây.

Theo các chuyên gia đánh giá, hiện tại rất khó để có thể tìm một căn hộ chất lượng với mức giá dưới 2 tỷ ở trung tâm thành phố. Theo phân tích mới nhất do CBRE công bố, cùng với sự mở rộng của thị trường nhà ở, các căn hộ thuộc phân khúc bình dân ngày càng dịch chuyển ra xa trung tâm hơn. Ví dụ như trong năm 2017, các dự án thường nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km, thì năm 2019, khoảng cách này là trên 13km.  Tuy nhiên, các căn hộ ở vùng ven đô có thể có mức giá dễ chịu, nhưng hạ tầng về giao thông, dịch vụ, thương mại, xã hội công cộng thường chưa tốt.

Trong khi thị trường đang dư thừa nguồn cung căn hộ cao cấp, hạng sang thì các căn hộ từ 1,5 đến 2 tỷ đồng vẫn là lựa chọn yêu thích của người dân và phù hợp với túi tiền. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện nay, diện tích nhà ở bình dân trên cả nước mới chỉ đạt khoảng 4 triệu m2, tương đương 40% yêu cầu theo Chiến lược phát triển nhà ở Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030. Vì thế, theo các chuyên gia, phân khúc nhà ở trung cấp, vừa túi tiền sẽ tiếp tục là tâm điểm của thị trường, có tính thanh khoản cao từ nay đến cuối năm và trong năm 2020.

Dự kiến, thời điểm cuối năm sẽ có gần 16 nghìn căn hộ chung cư được tung ra thị trường. Trong đó, số căn hộ chung cư chủ yếu là phân khúc hạng B; phân khúc cao cấp cũng sẽ có khoảng 3.000 căn. Đây là điểm khác biệt so với mọi năm, khi phân khúc hạng A được chào bán ra thị trường nhiều hơn.

Hiệp hội BĐS Việt Nam đưa ra dự báo, thời gian tới, thị trường sẽ tiếp tục phát triển ổn định, có tính chất bền vững. Nguồn cung có thể không tăng (tương đương quý III), tỷ trọng các phân khúc nhà ở không có nhiều thay đổi. Giao dịch có thể vượt quý III/2019 nhưng không thể đạt mức cùng kỳ năm 2018. Giá cả không có biến động lớn, ước tăng từ 1-2%.

Các chuyên gia nhận định, động lực cho thị trường nhà ở dịp cuối năm được hỗ trợ bởi cơ cấu dân số vàng và triển vọng kinh tế tích cực. Hà Nội đang chứng kiến tốc độ tăng trưởng dân số đạt 2,2% trong thập kỷ vừa qua, với khoảng 120 nghìn trẻ em ra đời và 80-100 nghìn người nhập cư mỗi năm. Kinh tế của Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng trong 3 năm tới, với tăng trưởng GDP hàng đầu Đông Nam Á. Tăng trưởng đầu tư trong nước, tín dụng được kiểm soát, và thị trường chứng khoán phục hồi sau thời gian sụt giảm. Niềm tin của nhà đầu tư cũng rất khả quan so với các nước trong khu vực, nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện.

Cùng với đó, tâm lý "mua nhà đón Tết" của một bộ phận lớn người dân đã khiến nguồn cầu vào thời điểm cuối năm tăng mạnh. Tuy nhiên, để có thể đáp ứng được nhu cầu của người dân, nhất là ở phân khúc hạng B luôn là điều không hề dễ.

Nếu muốn phát triển phân khúc nhà ở bình dân, cần phải có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực và hiệu quả.

Quỳnh Trang

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530