Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ: Cần cú huých để tăng tốc

11:00 | 17/05/2019

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhận định, trong thời gian tới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ là yếu tố quan trọng để có thể tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết giữa bà con nông dân, HTX, DN để phát triển chăn nuôi đại gia súc trong cả lấy sữa và thịt.

Hỗ trợ khách hàng bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi
Ngành chăn nuôi hướng đến chuỗi giá trị bền vững
Ngành chăn nuôi Việt Nam: Liên kết chuỗi để mở lối xuất khẩu

Thiếu chính sách hỗ trợ và cơ chế phù hợp

Theo HTX Nông nghiệp Evergrowth - cơ sở đã có 15 năm đầu tư trong lĩnh vực chăn nuôi, thì Việt Nam chưa quy hoạch được vùng nuôi cụ thể, chưa xác định giống bò nào được phát triển. Trong khi đó, với điều kiện chăn nuôi khó khăn, dinh dưỡng không đáp ứng được yêu cầu, lai tạo con giống không tốt đã dẫn đến những thất bại của chính HTX.

Rút kinh nghiệm sau đó, HTX cũng đã mời cả các chuyên gia đến khảo sát và tư vấn về con giống và điều kiện chăn nuôi tại Sóc Trăng. Tuy nhiên, rất thiếu sự hỗ trợ của địa phương hay từ cơ quan chức năng.

Chăn nuôi gia súc có cơ hội để phát triển do nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng cao

Theo vị đại diện HTX này, cần tạo cho nông dân một cơ hội thực sự để phát triển nghề nuôi bò sữa: “Theo đánh giá của các DN chế biến sữa, mỗi một hộ chăn nuôi bò sữa phải nuôi ít nhất 5 con thì mới có hiệu quả”.

Và vấn đề nữa ở đây là việc liên kết chặt chẽ về tiêu thụ sản phẩm để trong từng hoàn cảnh cụ thể thì DN không quay lưng lại với nông dân, đại diện HTX này bổ sung.

Hay như Ninh Bình có sản phẩm thịt dê nổi tiếng toàn quốc. Ông Phạm Văn Quang - Phó Giám đốc Công ty cổ phần giống vật nuôi và cây trồng Đồng Giao cho biết, sản lượng dê thực tế nuôi tại Ninh Bình chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh. Hiện, dê chủ yếu nuôi tại các hộ. Sản lượng sữa nuôi không cao, nguyên nhân do chất lượng giống. Do đó, ông Quang đề nghị tiến hành cải tạo chất lượng giống dê sữa ở Việt Nam. Cạnh đó, cần có quy hoạch vùng cỏ hợp lý thì DN mới có thể xây dựng vùng nguyên liệu, áp dụng công nghệ cao. Cùng với đó, công nghệ khai thác và chế biến sữa, nhất là sữa dê hiện nay chưa tốt, chưa đảm bảo yêu cầu của thị trường và đủ điều kiện để tham gia xuất khẩu.

Tất cả những điều đó cần được xử lý một cách đồng bộ, thì mới tạo được hiệu quả.

Nhiều dư địa để phát triển

Theo số liệu của Tổng Cục thống kê năm 2018, sản lượng thịt gia súc ăn cỏ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với thịt lợn và gia cầm. Trong năm 2018, sản lượng thịt gia súc ăn cỏ sản xuất trong nước chỉ chiếm 8,60% tổng sản lượng thịt các loại. Hiện, mức tiêu thụ thịt bò của Việt Nam thấp hơn mức tiêu thụ thịt bò trung bình của thế giới. Mức tiêu thụ sữa của Việt Nam hiện cao hơn một số nước trong khu vực như Indonesia, Philippines, nhưng thấp hơn rất nhiều mức trung bình của thế giới.

Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành, chăn nuôi gia súc có cơ hội để phát triển do nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng cao do bùng nổ dân số, với sản lượng sữa tiêu thụ tăng bình quân 8,5%/năm.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhận định, trong thời gian tới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ là yếu tố quan trọng để có thể tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết giữa bà con nông dân, HTX, DN để phát triển chăn nuôi đại gia súc trong cả lấy sữa và thịt.

Trước kiến nghị của các HTX và DN, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng đề nghị, cần tập trung mọi giải pháp cả về cơ chế, chính sách, tổ chức, chỉ đạo sản xuất chuỗi để làm sao có thể khai thác được tốt nhất tiềm năng lợi thế vốn có. Đây cũng là thời điểm tốt để tái cơ cấu, dịch chuyển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc phát triển chăn nuôi gia súc là giải pháp cân bằng ngành chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung, tập trung vào lợi thế xuất khẩu sữa và các sản phẩm thịt nông sản đặc sản.

Ở góc độ thị trường, ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục chế biến và phát triển thị trường nông sản cho hay, về sản phẩm thịt bò, đối với thị trường nội địa, cần chia phân khúc khi xác định mục tiêu sản xuất và kinh doanh. Đây là những nhóm sản phẩm chất lượng cao chưa bị cạnh tranh gắt gao bởi hàng nhập khẩu, cũng là lợi thế của sản xuất trong nước. Cần tăng cường nhiều hơn các nhà máy giết mổ, chế biến công nghiệp. Riêng trong 2 năm 2017-2018, tổng mức đầu tư các nhà máy giết mổ đạt mức gần 5.000 tỷ đồng, đây là sự quan tâm rất lớn của các DN.

Đối với thị trường thế giới, cần xác định thị trường tiềm năng để có kế hoạch sản xuất, hỗ trợ DN phát triển. Trong đó, trước mắt cần ưu tiên sản phẩm sữa chế biến đối với những thị trường có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là Trung Quốc. “Tới đây, Cục sẽ trình lãnh đạo Bộ về lộ trình triển khai các giải pháp với Nghị định thư của Trung Quốc về yêu cầu thú y và sức khỏe cộng đồng đối với các sản phẩm sữa của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc”, ông Toản nói.

Hiện nay, có khoảng 10 DN của Việt Nam đã xuất khẩu sữa ra thị trường thế giới trong đó phải kể đến các thương hiệu mạnh như Vinamilk, TH True Milk… Đây sẽ là nhóm DN nền tảng dẫn dắt thúc đẩy xuất khẩu đối với sản phẩm sữa Việt Nam.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.175 23.355 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.155 23..365 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.150 23.350 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.180 23.340 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.190 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050