Phát triển thị trường vốn lành mạnh, hiệu quả

08:30 | 23/04/2022

Là nhận định của GS.TS Phạm Hồng Chương – Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Ông Chương cũng cho rằng, vấn đề lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng cũng tiếp tục được thực hiện tốt hơn.

phat trien thi truong von lanh manh hieu qua
GS.TS Phạm Hồng Chương

Ông đánh giá thế nào về sức khỏe hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 5 năm qua?

Tại báo cáo “Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên - Ổn định kinh tế vĩ mô và lành mạnh tài chính bối cảnh đại dịch Covid-19” sắp công bố tới đây, chúng tôi nhận định, khu vực ngân hàng những năm vừa qua đã có những kết quả tốt. Đó là hệ thống ngân hàng phát triển ổn định; hầu hết các ngân hàng đã áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực vốn Basel II; gia tăng trích lập dự phòng rủi ro; thanh khoản dồi dào; hiệu quả kinh doanh được nâng cao…

Tuy nhiên, khu vực này đang xuất hiện một số rủi ro. Cụ thể, nợ xấu có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong giai đoạn Covid-19 hoành hành. Nợ xấu nội bảng năm 2021 ở mức 1,9%, tăng 0,21% so với 2020; nợ xấu nội bảng và nợ bán cho VAMC chưa xử lý là 3,79%. Nếu tính cả nợ tiềm ẩn đã được cơ cấu theo Thông tư 01, 03 và 14 vào khoảng 8,2%. Theo đó, mức độ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng đang bị đe dọa bởi sự suy giảm chất lượng tài sản và danh mục tài sản tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn...

Trong khi đó, chính sách cơ cấu lại nợ, giãn hoãn nợ được kéo dài đã biến các khoản cho vay ngắn hạn thành trung dài hạn cũng như tạm thời không ghi nhận mức độ rủi ro thực tế của khách hàng, sẽ tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống trong trung hạn; ngoài ra một số ngân hàng chưa áp dụng được theo tiêu chuẩn Basel II; chiến lược chuyển đổi số chưa được thực hiện mạnh mẽ...

Vậy theo ông, ngân hàng cần làm gì để tiếp tục nâng cao “sức khỏe”?

Việc đầu tiên cần làm theo tôi là phát triển hệ thống ngân hàng theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong quản trị và hoạt động của các tổ chức tín dụng như Basel III, IFRS 9.

Ở góc độ cơ quan quản lý, NHNN cần tiếp tục yêu cầu hệ thống ngân hàng giảm lãi suất cho vay bằng cách thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi có chọn lọc với hai điểm khác biệt: có sự tham gia của ngân sách Nhà nước và tập trung vào các ngành kinh tế có tính lan tỏa cao. Bên cạnh đó, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại tiếp tục được đẩy mạnh hơn. Vấn đề cần quan tâm nữa là bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, tăng cường xử lý nợ xấu, tiếp tục chấn chỉnh, cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém để lành mạnh hóa, nâng cao năng lực tài chính cả về quy mô và chất lượng, hiệu quả; Luật hóa Nghị quyết 42 trên cơ sở rà soát toàn diện các luật khác có liên quan tới xử lý nợ xấu và xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu.

Quy mô tín dụng ngân hàng trên GDP vẫn duy trì ở mức cao. Nhiều ý kiến cho rằng, cần phải thúc đẩy phát triển thị trường vốn mạnh hơn, giảm tải cho hệ thống ngân hàng. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?

Đúng vậy, tôi cho rằng, cần phải phát triển mạnh mẽ thị trường vốn hơn nữa. Trước hết, phải tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh, trở thành kênh cung ứng vốn trung dài hạn quan trọng của nền kinh tế, giảm gánh nặng cho khu vực ngân hàng.

Tăng quy mô thị trường cổ phiếu và đa dạng hoá sản phẩm chứng khoán thông qua các giải pháp tăng số lượng, chất lượng hàng hoá, thúc đẩy cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp là giải pháp kế tiếp cần quan tâm triển khai. Nhất là chú trọng đẩy mạnh giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chứng khoán; phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an trong xác minh, điều tra, xử lý tội phạm trên thị trường chứng khoán… Hoàn thiện cơ sở hạ tầng thị trường chứng khoán theo thông lệ quốc tế, phấn đấu được nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi theo cả MSCI và FTSE Rusell trước năm 2025.

Giải pháp quan trọng nữa là phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo hướng minh bạch, gắn với xếp hạng tín nhiệm. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính để kịp thời phát hiện các rủi ro phát sinh trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tập trung chiến lược cho phát triển các nhà đầu tư có tổ chức thông qua việc mở rộng quy mô và phát triển đa dạng các loại hình quỹ đầu tư...

Xin cảm ơn ông!

Tâm Nguyễn thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500