Phát triển thị trường vốn: Năm trụ cột cần tập trung

09:19 | 20/12/2019

Hoàn thiện nền tảng quy phạm pháp luật cho thị trường vốn; cải thiện quản trị và công bố thông tin; mở rộng mạng lưới các nhà đầu tư (NĐT); phát triển các sản phẩm sáng tạo và tăng cường vai trò của Chính phủ là những đề xuất vừa được các chuyên gia WB khuyến nghị để phát triển thị trường vốn tại Việt Nam.

4 cải cách khơi thông thị trường vốn, khuyến nghị của WB
Tạo động lực phát triển thị trường vốn
Thị trường trái phiếu Chính phủ đã có sự tham gia của đa dạng các nhà đầu tư

Ngân hàng - thị trường vốn: Song hành và bổ sung cho nhau

Cả lý thuyết kinh tế và các thực chứng ở các quốc gia đều cho thấy tăng trưởng kinh tế luôn song hành với sự phát triển của các thị trường tài chính. Mối tương quan đó cũng thể hiện rõ trong suốt hơn 2 thập kỷ qua ở Việt Nam khi tăng trưởng kinh tế cao luôn song hành với tỷ lệ tín dụng tăng mạnh (từ mức chỉ 17% GDP năm 1996 lên khoảng trên 130% GDP hiện nay). Thị trường tài chính ngày càng phát triển nhưng một điểm dễ nhận thấy là vẫn chủ yếu tập trung ở kênh tín dụng ngân hàng. Các thị trường và công cụ khác như trái phiếu, cổ phiếu… tuy tỷ trọng đã tăng nhanh trong những năm qua nhưng vẫn rất nhỏ bé so với các quốc gia phát triển hơn. 

Ông Alaweed Altabani - chuyên gia trưởng ngành tài chính của WB cho rằng, trong khi nguồn cung và cơ cấu tín dụng dài hạn của khu vực ngân hàng bị hạn chế (nguyên nhân chủ yếu do tính chất ngắn hạn của nguồn huy động khi trên 80% là tiền gửi từ một năm trở xuống), hay các nguồn vốn vay ưu đãi không còn khi Việt Nam đã “tốt nghiệp ODA” thì việc phát triển các thị trường vốn là giải pháp tốt để huy động vốn cho những dự án dài hạn và rủi ro hơn thông qua sử dụng các công cụ nợ và cổ phiếu. Áp lực và gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế - vốn dựa chủ yếu vào tín dụng - nhờ đó sẽ giảm bớt.

“Hiện Việt Nam đang thiếu thị trường huy động tài chính dài hạn”, ông Alaweed Altabani nói. Thị trường vốn ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây nhưng giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu và trái phiếu vẫn rất thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN.

Nếu có chiến lược và các giải pháp triển khai tốt, khu vực ngân hàng và các thị trường vốn sẽ bổ sung cho nhau. Trong đó khu vực ngân hàng chuyên sâu hơn về các cơ chế cố định, mang tính chuẩn hóa, dựa vào thế chấp để huy động vốn cho các hoạt động đầu tư kinh doanh truyền thống và ngắn hạn hơn, còn thị trường vốn chuyên sâu theo cơ chế hợp đồng được thiết kế phù hợp theo hoàn cảnh và hầu hết không có đảm bảo. Khả năng chia sẻ lợi nhuận (thị trường cổ phiếu) và chuyển nhượng tài sản (thanh khoản trên thị trường thứ cấp) khiến cho các thị trường vốn trở nên hấp dẫn hơn với các NĐT chấp nhận rủi ro ở mức cao hơn.

Và “luật chơi” cần được quan tâm hơn nữa vì kinh nghiệm cho thấy minh bạch và cạnh tranh là điều kiện cần để đảm bảo thị trường vốn thực hiện hiệu quả vai trò cung cấp nguồn tài chính dài hạn. Trong đó, các cấp có thẩm quyền cần cân đối giữa bảo vệ NĐT và duy trì lòng tin của NĐT về định hướng phát triển thị trường, đồng thời cho phép linh hoạt hơn nữa trong quá trình đầu tư và huy động vốn”, ông Alaweed Altabani đề xuất.

Chính phủ nên là nhà phát hành trái phiếu lớn 

Trong báo cáo “Điểm lại” mới nhất vừa công bố, WB cũng dành một phần đáng kể để đánh giá tầm quan trọng của phát triển thị trường vốn ở Việt Nam và đề xuất các trụ cột cần cải cách. Trong đó, hoàn thiện khung khổ quy phạm pháp luật được nhấn mạnh mạnh nhất bởi một hệ thống pháp luật đầy đủ và ổn định cùng với hạ tầng thị trường hiệu quả là những nền tảng để các thành viên thị trường yên tâm tham gia.   

Hiện nay đang có những quy định như yêu cầu phải chuẩn bị vốn trước và xác nhận trước khi giao dịch…  gây tốn kém cho các thành viên thị trường và làm hạn chế thanh khoản, làm tăng chi phí, cản trở giao dịch và đầu tư. Nếu Việt Nam muốn được nâng cấp trở thành thị trường mới nổi trong các chỉ số về cổ phiếu và trái phiếu toàn cầu thì những quy định này cần phải được bãi bỏ.

Bên cạnh đó, cải thiện cơ chế thị trường, quản trị DN và đánh giá định mức tín nhiệm cũng cần được tập trung. Đồng thời là phát triển các sản phẩm sáng tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường. WB đã gợi ý các công cụ mới để huy động vốn cho khu vực kinh tế thực (như cho các dự án hạ tầng và nhà ở) có thể là trái phiếu dự án, quỹ đầu tư hạ tầng… Để thúc đẩy hình thành thêm các cơ hội đầu tư, luật pháp và quy định cần tạo điều kiện, các thủ tục phát hành cần thuận lợi hơn để khuyến khích DN phát hành sản phẩm mới và phù hợp, tạo đủ chiều sâu và bề rộng của thị trường.  

Mở rộng mạng lưới NĐT cũng là yếu tố quan trọng để phát triển các thị trường vốn, qua đó không chỉ giúp duy trì tăng trưởng thị trường, mà còn giúp tăng thanh khoản và giảm biến động. Các giải pháp có thể tiến hành như mở rộng cơ chế đầu tư cho Bảo hiểm xã hội – NĐT lớn nhất trên thị trường Trái phiếu Chính phủ hiện nay; tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư vào thị trường vốn của các DN bảo hiểm nhân thọ; tiếp tục xây dựng các quy định để hướng dẫn và thúc đẩy sự phát triển của các quỹ hưu trí tư nhân và quỹ tương hỗ; cải thiện chương trình phát hành theo mốc chuẩn và xác định quy mô mục tiêu để phát hành theo mốc chuẩn ở mức cao hơn để thu hút sự tham gia của NĐT nước ngoài...

Cuối cùng, cần tăng cường vai trò của Chính phủ trong phát triển các nguồn huy động tài chính dài hạn. Bên cạnh vai trò quản lý Nhà nước Chính phủ cũng là tổ chức phát hành trái phiếu lớn. Kinh nghiệm ở các thị trường mới nổi cho thấy, Chính phủ có thể gây ảnh hưởng đến đường cong lợi suất của trái phiếu bằng cách kéo dài trục kỳ hạn. Cách làm này sẽ khuyến khích các DN phát hành, thông qua hình thành giá tham chiếu dựa trên đường cong lợi suất. Chính phủ cũng có thể tác động đến khối lượng thanh khoản trên thị trường bằng cách cam kết về phát hành trong khả năng dự liệu sao cho các NĐT tiềm năng có thể lập kế hoạch đầu tư từ sớm. 

Và một trong những vấn đề cần cải thiện thêm là phát triển đường cong lợi suất thông qua nâng quy mô của trái phiếu mốc chuẩn và rút gọn số lượng công cụ. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sử dụng các công cụ tự bảo hiểm rủi ro trên thị trường (như tự bảo hiểm tỷ giá, lãi suất). Các công cụ tự bảo hiểm nếu được phát triển sẽ khuyến khích các NĐT nước ngoài tham gia ngày càng tăng. 

Các cấp có thẩm quyền cũng cần cân nhắc hình thành lãi suất tham chiếu ngắn hạn đáng tin cậy hơn để hoàn tất đường cong lợi suất từ phân khúc ngắn hạn đến phân khúc dài hạn. Điều này sẽ giúp cải thiện việc định giá cho các công cụ có lãi suất thả nổi và tạo ra mốc neo vững chắc cho các công cụ có kỳ hạn dài hơn. Việc có được mốc lãi suất ngắn hạn đáng tin cậy cũng là cách để nâng cao hiệu quả định giá các công cụ tự bảo hiểm qua đó giúp cho thanh khoản thị trường tốt hơn.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950