Phía sau lạm phát thấp

09:23 | 18/08/2021

Nhiều dự báo gần đây đều cho rằng chắc chắn sẽ đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4%, thậm chí lạm phát chỉ ở mức 2%-3%. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, lạm phát thấp đang cho thấy nhiều nỗi quan ngại.

phia sau lam phat thap Phía sau lạm phát thấp là nỗi lo đứt gãy chuỗi cung ứng

Lạm phát trong tầm kiểm soát

Hiện lạm phát đang là nỗi lo của khá nhiều quốc gia trên thế giới. Các tổ chức quốc tế cũng cho rằng, khả năng lạm phát toàn cầu sẽ tăng trong trung hạn khi mà thời gian qua các nền kinh tế lớn đã triển khai các gói kích thích tiền tệ, tài khóa khổng lồ và tiếp tục tung ra thêm nhiều gói kích thích như vậy để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi sau đại dịch. Kinh tế thế giới phục hồi cũng sẽ kéo giá của nhiều loại nguyên vật liệu, đặc biệt là dầu thô tăng.

Giá nguyên vật liệu tăng sẽ khiến giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam tăng, gia tăng tỷ lệ “nhập khẩu lạm phát”, từ đó tác động đến lạm phát trong nước. Trong khi áp lực tăng giá trong nước vẫn luôn hiện hữu khi nền kinh tế phục hồi. Chưa kể, dịch Coivid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương trên cả nước đã làm gián đoạn nguồn cung, từ đó làm tăng giá cục bộ ở một số nơi.

phia sau lam phat thap
Tiêu dùng yếu ớt sẽ ảnh hưởng ngược lại đến sản xuất

Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng mang tính cục bộ tại một số địa phương và đã nhanh chóng được kiểm soát. Bên cạnh đó, trong 7 tháng qua, các mặt hàng do Nhà nước định giá tiếp tục được giữ ổn định, chưa xem xét tăng giá nhằm tạo điều kiện cho công tác kiểm soát lạm phát. Một số hàng hóa dịch vụ quan trọng thiết yếu tiếp tục được đề xuất giảm giá để hỗ trợ nền kinh tế...

Chẳng hạn như giá điện, để hỗ trợ người dân, Chính phủ đã thống nhất 4 đợt điều chỉnh giảm giá tiền điện từ năm 2020 đến nay. Trong đó đã thực hiện 2 lần điều chỉnh với ước tính tổng số tiền hỗ trợ là trên 12.300 tỷ đồng; sẽ tiếp tục thực hiện đợt 3 và 4 với mức hỗ trợ đợt 3 ước tính khoảng 1.200 - 1.300 tỷ đồng, đợt 4 khoảng 2.500 tỷ đồng.

Đặc biệt theo các chuyên gia, nhờ chính sách tiền tệ được điều hành hết sức linh hoạt đã giúp kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức thấp, qua đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát lạm phát tổng thể. Quả vậy, theo Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 7 giảm 0,06% so với tháng trước, tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng năm 2021, lạm phát cơ bản chỉ tăng 0,89% so với cùng kỳ năm 2020, thấp hơn mức CPI bình quân chung, điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, giá xăng, dầu, điện và giá gas tăng. Đáng chú ý mức lạm phát cơ bản tháng 7 và 7 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước đều là mức thấp nhất kể từ năm 2011.

Nhờ đó mặc dù chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 0,62% so với tháng 6, nhưng nếu so với cuối năm 2020, CPI tháng 7 mới tăng 2,25%, còn so với cùng kỳ năm trước thì CPI cũng chỉ tăng 2,64%. Đặc biệt, tính chung 7 tháng năm 2021, CPI tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.

Lo cho tăng trưởng

Theo dự báo về những tháng tới của Bộ Tài chính và Ban Chỉ đạo điều hành giá, nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế (nợ công, thâm hụt ngân sách, cán cân xuất nhập khẩu...) vẫn được điều hành đảm bảo. Nguồn cung hàng hóa dồi dào trong khi sức mua, tổng cầu nền kinh tế còn thấp. Bộ Tài chính khẳng định, CPI bình quân cả năm 2021 ở mức khoảng 4% là vẫn trong tầm kiểm soát của Chính phủ, của Ban Chỉ đạo điều hành giá. Theo kịch bản của Ban chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ thì lạm phát bình quân cả năm quanh mức 3% nếu không có các yếu tố biến động quá bất thường, đột biến xảy ra.

phia sau lam phat thap

Thậm chí, theo dự báo của TS. Nguyễn Đức Độ (Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính - Học viện Tài chính), lạm phát năm 2021 chỉ ở mức 2%-2,5%. Lý giải nguyên nhân, vị chuyên gia này cho biết, hiện giá dầu đã chững lại, giá sắt thép cũng giảm mạnh, Cho thấy việc giá nguyên vật liệu sản xuất tăng cao vừa qua chỉ là cú sốc tạm thời. Trong khi sang năm Fed sẽ chuyển dần sang chính sách thắt chặt, nên giá những hàng hóa mang tính đầu cơ nhiều có thể sẽ chững lại và giảm. "Giá cả trong nước cũng sẽ không tăng cao do nguồn cung đủ, nhưng quan trọng nhất là cầu rất thấp", TS. Nguyễn Đức Độ nhấn mạnh.

Theo các phân tích và dự báo thì rõ ràng, lạm phát không đáng lo. Nhưng diễn biến thị trường giá cả và tình hình lạm phát đã bộc lộ rõ những rủi ro của nền kinh tế đó là cầu rất thấp. Số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy rõ điều đó khi mà tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng đầu năm chỉ tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, thậm chí khi loại trừ yếu tố giá còn giảm 0,74%.

Nhiều hoạt động, nhu cầu tiêu dùng quan trọng như du lịch, đi lại, ẩm thực, mua sắm hàng công nghệ, cơ sở lưu trú, bất động sản, hàng không... gần như đã giảm xuống mức tối thiểu. Nhà máy đóng cửa, người lao động mất việc làm, giảm thu nhập nên đã giảm chi tiêu đến mức tối thiểu. Cầu thấp có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp làm ra sẽ gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ, tình trạng đình trệ sản xuất sẽ trầm trọng thêm.

Trong khi cầu yếu thì chi phí vận chuyển hàng hóa tăng cao do lưu thông gián đoạn, làm tăng giá thành sản xuất, ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa trong nước và xuất khẩu của Việt Nam. Chưa kể chi phí sản xuất đã bị đội lên khá nhiều do dịch bệnh.

Thực tế cũng cho thấy, giá lương thực, thực phẩm, tôm cá, rau và hoa quả giảm mạnh ở các tỉnh phía Nam là do thương lái cũng không đi mua gom hàng được vì giãn cách xã hội. Trong khi đó, nhiều nhà máy chế biến thiếu nguyên liệu phải dừng hoạt động hoặc có nhưng phải giảm công suất vì dịch bệnh.

“Nhìn vào mục tiêu lạm phát thì không đáng lo. Nhưng nhìn vào mục tiêu sản xuất thì thực sự đáng lo”, TS. Nguyễn Đức Độ nói.

Bởi vậy kiểm soát lạm phát song song với hỗ trợ doanh nghiệp, giảm bớt khó khăn cho người dân, kích thích tổng cầu, không để đứt gãy chuỗi cung ứng... đó cũng là những việc mà công tác điều hành những tháng cuối năm hướng tới.

Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ

Linh Ly

Nguồn:

Tags: lạm phát

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050