Phối hợp tài khóa và tiền tệ thế nào?

08:54 | 04/05/2015

Nếu điều chỉnh tỷ giá định kỳ sẽ giúp duy trì tính cạnh tranh

Ông Sandeep Mahajan

Trao đổi với phóng viên TBNH về vai trò của chính sách tiền tệ, tài khóa đối với tăng trưởng nền kinh tế hiện nay, ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia Kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam nói: “Rất khó để nói bao nhiêu phần trăm đóng góp vào tăng trưởng là do chính sách tiền tệ (CSTT), bao nhiêu đến từ các nhân tố khác, dù nhìn tổng thể điều hành CSTT thời gian qua là khá tốt”.

Vậy, ông đánh giá thế nào về vai trò CSTT trong kiểm soát lạm phát và giảm lãi suất để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng?

NHNN đã chủ động đối phó với các rủi ro lạm phát giảm. Lạm phát và kỳ vọng lạm phát giảm đã tạo dư địa cho NHNN giảm lãi suất. Nhưng trong suốt quá trình đó, NHNN đã luôn giữ để lãi suất không giảm quá nhanh so với lạm phát, nên đã không xảy ra tình trạng lãi suất thực âm. Trong thời điểm hiện tại, chúng tôi đánh giá lãi suất đang ở trên mức lạm phát nhưng không phải cao hơn quá nhiều. Nên tôi cho rằng, không có nhiều dư địa để giảm thêm lãi suất nếu tiếp tục muốn lãi suất thực dương.

Ông có thể nói cụ thể hơn?

Như tôi đã nói ở trên là dư địa cho giảm lãi suất không có nhiều. Bên cạnh đó, một vấn đề đặt ra là nếu giảm thêm lãi suất thì tác động sẽ tới đâu? Nếu nói đến giảm lãi suất và hiệu quả của nó mang lại thì tôi chưa thấy rõ. Thanh khoản của các NH hiện rất dồi dào, nhưng họ vẫn ngại cho vay ra khu vực tư nhân và không có vẻ gì cho thấy họ ngại vì lãi suất mà theo tôi, họ đang ngại hơn vì tình hình bảng cân đối tài chính của mình hiện nay cũng như niềm tin của họ vào nền kinh tế.

Về mặt tỷ giá, NHNN muốn giữ tỷ giá ổn định để hỗ trợ các DN trong hoạch định kế hoạch kinh doanh tốt hơn. Ông nhìn nhận ra sao về vấn đề này?

WB không đưa ra các lời khuyên về chính sách tỷ giá. Nhưng điều mà tôi muốn nói ở đây là nếu điều chỉnh tỷ giá định kỳ (preodic adjustment) sẽ giúp duy trì tính cạnh tranh. Đây là hoạt động mà NHTW ở các nước làm thường xuyên và đó là một chính sách mang lại tác dụng tích cực. Tôi nghĩ việc điều chỉnh tỷ giá định kỳ là cần thiết bởi lạm phát của Việt Nam thường xuyên cao hơn so với các đối tác thương mại của mình. Nếu không điều chỉnh tỷ giá định kỳ sẽ dẫn đến việc Việt Nam bị mất dần đi tính cạnh tranh, bởi các đối tác cạnh tranh khác như Ấn Độ, Indonesia - những nước đã điều chỉnh tỷ giá theo tín hiệu lạm phát. Tôi nghĩ đó là điều mà NHNN sẽ tính toán.

Liên quan đến chính sách tài khóa (CSTK), trong báo cáo mới đây của mình, WB nhận định nợ công của Việt Nam gia tăng và như vậy thì dư địa điều chỉnh với CSTK là khá khó khăn?

Tôi nghĩ đây không chỉ là nhận định của WB mà là điều mà Chính phủ và Quốc hội của Việt Nam cũng đã nói tới. Khi đề cập tới điều này, hàm ý của chúng tôi không phải muốn nói rằng, Việt Nam đã gần đến ngưỡng khủng hoảng về nợ công mà chỉ là cảnh báo về tình trạng nợ công sẽ khó khăn hơn trong trung hạn. Việt Nam vẫn còn nhiều thời gian để điều chỉnh nợ công của mình. Việc điều chỉnh theo tôi nên chủ yếu đến từ thâm hụt tài khóa vì đây là nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng.

Do đó, tôi nghĩ trong trung hạn cần củng cố tài khóa. Sự điều chỉnh không phải là ngay lập tức vì không ai muốn tổng cầu suy sụp trong bối cảnh nó vẫn còn khá yếu như hiện nay. Các kế hoạch củng cố tài khóa cần tính tới cả yếu tố về tăng nguồn thu, đồng thời giảm dần mức chi ngân sách hiện nay. Cùng với đó, Chính phủ cũng cần tìm kiếm các nguồn tài trợ vốn giá rẻ hơn. Điều mà chúng tôi thấy trong những năm gần đây là thâm hụt ngân sách tăng và được huy động ngày càng nhiều hơn từ các thị trường trong nước mà lãi suất cao hơn, kỳ hạn ngắn hơn. Nên vấn đề tìm kiếm nguồn vốn với chi phí thấp hơn cũng cần được quan tâm.

CSTK cần đồng nhịp với CSTT, việc phối hợp hai chính sách này là rất cần thiết

Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần làm gì để có sự phối hợp tốt hơn giữa CSTK và CSTT?

Các chính sách này phục vụ các mục tiêu khác nhau. Nhưng để phối hợp hiệu quả hơn thì các mục tiêu hướng đến cần có tính đồng nhất với nhau. Đơn cử khi nền kinh tế trải qua thời kỳ sức cầu yếu thì nên sử dụng đồng thời cả CSTK và CSTT để thúc đẩy sức cầu tốt lên. Nhưng mục tiêu của CSTT không phải là để phục vụ CSTK. Đây nên xem là hai công cụ khác nhau. Mục tiêu chính của CSTT là ổn định giá cả, chứ không phải để hỗ trợ cho thâm hụt ngân sách. Vậy thì CSTK cần đồng nhịp với CSTT. Nếu chi tiêu công tăng mạnh sẽ gây ra áp lực tăng lạm phát và làm khó khăn cho CSTT.

Do đó, việc phối hợp hai chính sách này là rất cần thiết. Nhưng tôi phải nhấn mạnh lại là, mỗi chính sách phục vụ mục tiêu riêng. CSTT tập trung vào ổn định giá cả còn CSTK phục vụ nhiều mục tiêu khác nhau: tăng trưởng, đầu tư, ổn định kinh tế vĩ mô…

Việc CSTT thường phải gánh quá nhiều mục tiêu và áp lực cũng là vấn đề mà nhiều nước gặp phải. Nhưng tôi cho rằng, có một yếu tố mang tính dài hạn hơn và phát huy tác dụng tốt ở nhiều nước là trao quyền độc lập cho NHTW. Khi có được điều đó thì dù cho áp lực về tài khóa có tăng thì NHTW vẫn độc lập ra các quyết định trong điều hành CSTT, như việc có nới lỏng chính sách hay không. Có những thời điểm việc nới lỏng là nên làm và NHTW sẽ hành động. Nhưng cũng có những thời điểm NHTW sẽ không cần phải làm thế.

Xin cảm ơn ông!

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.380 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.205 23.385 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.184 23.374 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.200 23.360 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.190 23.400 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.190 23.390 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.200 23.370 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.230 23.360 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050