PMI cải thiện mạnh trong tháng 10, lên 53,9 điểm

11:09 | 01/11/2018

Sau khi đột ngột giảm xuống mức thấp của 10 tháng vào tháng 9, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI ) ngành sản xuất Việt Nam của Nikkei đã tăng trở lại trong tháng 10, do nhu cầu mạnh hơn thúc đẩy tăng trưởng sản xuất và tạo việc làm.

TIN LIÊN QUAN
PMI giảm mạnh xuống 51,5 điểm trong tháng 9
PMI giảm xuống 53,7 điểm trong tháng 8
PMI tháng 7 giảm nhẹ xuống 54,9 điểm

PMI ngành sản xuất Việt Nam của Nikkei - một chỉ số tổng hợp về kết quả hoạt động của ngành sản xuất - đạt 53,9 điểm trong tháng 10, tăng tới 2,4 điểm so với tháng 9. Mức điểm này tính từ đầu năm đến nay chỉ kém tháng 6 (55,7 điểm), tháng 7 (54,9 điểm) và bằng điểm tháng 5.

“PMI ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 10 thể hiện sự cải thiện mạnh mẽ nhất của sức khỏe lĩnh vực sản xuất kể từ tháng 7”, báo cáo đánh giá.

Đáng chú ý, tất cả năm thành phần của chỉ số PMI đều góp phần cải thiện sức khỏe lĩnh vực sản xuất vào đầu quý IV/2018. Trong đó, nổi bật là số lượng đơn đặt hàng tăng đáng kể và nhanh hơn; tăng trưởng sản lượng đạt mức cao của ba tháng; việc làm tăng nhanh hơn tốc độ trung bình…

Số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng đáng kể và với tốc độ nhanh hơn tháng 9 nhờ sự hỗ trợ của nhu cầu mạnh lên ở trong nước và nước ngoài. Trên thực tế, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong ba tháng khi các công ty được hưởng lợi từ việc mở rộng các thị trường mới và lượng khách hàng lớn hơn.

“Thành công của các công ty trong việc tiếp tục duy trì mức tăng số lượng đơn đặt hàng mới mặc dù có các dấu hiệu nhu cầu yếu đi trên thị trường thế giới giúp họ thuận lợi hơn khi sắp hết năm”, Andrew Harker, Phó Giám đốc tại IHS Markit, công ty thu thập kết quả khảo sát, bình luận.

Tiếp theo đó, các nhà sản xuất đã gia tăng sản xuất trong 11 tháng liên tiếp, với mức độ mạnh nhất kể từ tháng 7. Mặc dù doanh thu bán hàng tăng, các nhà sản xuất đã có thể kiểm soát được khối lượng công việc như đã được thể hiện qua tình trạng lượng công việc chưa thực hiện tiếp tục giảm.

Một nhân tố hỗ trợ làm giảm lượng công việc tồn đọng là các công ty thuê thêm nhân công. Việc làm không chỉ đã tăng tháng thứ 31 liên tiếp mà còn tăng thành mức cao nhất kể từ tháng 7. Theo những người tham gia khảo sát, việc làm tăng là nhờ có các dòng sản phẩm mới và lực cầu mạnh.

Các nhà sản xuất Việt Nam cũng gia tăng lượng hàng hóa nguyên vật liệu và bán thành phẩm, khi hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng mạnh với tốc độ nhanh hơn tháng 9.

Nhu cầu cao về nguyên vật liệu đã tạo áp lực lên chuỗi cung ứng như được thể hiện qua việc thời gian giao hàng của nhà cung cấp tiếp tục tăng.

Lượng hàng mua tăng đã giúp các công ty tăng hàng tồn kho. Tồn kho hàng hóa đầu vào đã tăng đáng kể trong tháng 10, với tốc độ tăng là nhanh nhất kể từ khi hoạt động khảo sát bắt đầu vào tháng 3/2011.

Tương tự như vậy, tồn kho hàng thành phẩm đã tăng mạnh và với tốc độ nhanh nhất trong gần ba năm rưỡi.

Mặc dù chi phí đầu vào tiếp tục tăng, tốc độ tăng đã giảm thành mức yếu nhất trong 15 tháng, từ đó khuyến khích một số nhà sản xuất giảm giá cả đầu ra và một số khác giữ giá cả đầu ra không đổi.

 Giá cả đầu ra trong lĩnh vực sản xuất đã giảm tháng thứ hai liên tiếp, mặc dù mức giảm là nhẹ.

“Các nhà sản xuất ở Việt Nam kỳ vọng đa dạng hóa sản phẩm, lực cầu mạnh và các mục tiêu đặt ra để tăng sản lượng trong thời gian 12 tháng tới”, báo cáo cho biết. Tuy nhiên, mức độ lạc quan tích cực nói chung đã giảm trong tháng 10 và nằm dưới mức trung bình của lịch sử chỉ số.

Anh Quân

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.310 23.610 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.270 23.630 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.270 23.590 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.260 23.750 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.309 23.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.940 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.350 23.640 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.900
67.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.900
67.900
Vàng SJC 5c
66.900
67.920
Vàng nhẫn 9999
54.600
55.600
Vàng nữ trang 9999
54.400
55.200