PMI chỉ còn 51,2 điểm trong tháng Bảy

14:41 | 01/08/2022

Ngành sản xuất của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng vào đầu quý III, nhưng đã có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu giảm. Dó đó, sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm trong tháng Bảy đều tăng chậm hơn so với tháng Sáu, theo ghi nhận của S&P Global từ kết quả khảo sát PMI vừa công bố.

Cụ thể, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của Việt Nam trong tháng Bảy chỉ đạt 51,2 điểm so với mức 54 điểm của tháng Sáu, cho thấy mức độ cải thiện đã yếu hơn nhưng đây vẫn là tháng thứ mười liên tiếp chỉ số này vượt ngưỡng 50 điểm - mức phân tách giữa thu hẹp và mở rộng của ngành sản xuất.

“Đà tăng trưởng mạnh mẽ gần đây trong ngành sản xuất của Việt Nam đã bị thay thế bằng mức tăng trưởng khiêm tốn hơn trong tháng Bảy, nhưng các công ty vẫn có thể có được số lượng đơn đặt hàng mới cao hơn và từ đó tăng tương ứng sản lượng và việc làm”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, nhận xét.

pmi chi con 512 diem trong thang bay

Số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng tháng thứ mười liên tiếp, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại thành mức yếu nhất kể từ tháng Tư. Trong khi đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng mạnh và nhanh hơn so với tổng số lượng đơn đặt hàng mới.

Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng đã khuyến khích các nhà sản xuất tiếp tục tăng sản lượng trong tháng Bảy. Sản lượng đã tăng tháng thứ tư liên tiếp. Tuy nhiên, tốc độ tăng chỉ là nhẹ và là chậm nhất trong thời kỳ tăng hiện nay khi có các dấu hiệu cho thấy tình trạng nhu cầu giảm, khó khăn trong khâu chuyển hàng và áp lực giá cả.

Mặc dù vậy, có những dấu hiệu cho thấy áp lực giá cả và nguồn cung đã chậm lại vào đầu quý III.

Về giá cả, tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại và là mức tăng yếu nhất kể từ tháng 10/2020 khi giá một số mặt hàng đầu vào đã giảm trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mức tăng lần này vẫn cao hơn mức trung bình của chỉ số khi có các báo cáo cho biết chi phí dầu, khí đốt và vận tải tăng. Tương tự như vậy, giá cả đầu ra tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng đã chậm lại và mức tăng chỉ là nhẹ.

Thời gian giao hàng của nhà cung cấp gần như ổn định khi mức độ kéo dài thời gian giao hàng đã giảm tháng thứ hai liên tiếp thành mức yếu nhất trong 22 tháng. Ở những nơi thời gian giao hàng tiếp tục kéo dài, lý do được cho là do những vấn đề của khâu chuyển hàng và chi phí vận tải tăng.

Các nhà sản xuất tiếp tục tăng lực lượng lao động để đáp ứng yêu cầu sản xuất, và đây là tháng tăng thứ tư liên tiếp. Mức độ tạo thêm việc làm là mạnh mặc dù đã chậm lại so với mức cao của ba năm rưỡi được ghi nhận trong tháng Sáu. Trong khi đó, lượng công việc tồn đọng không thay đổi sau khi giảm trong tháng trước.

Cùng với việc tuyển thêm nhân viên, các công ty cũng tăng hoạt động mua hàng trong tháng Bảy do số lượng đơn đặt hàng mới tăng và các công ty muốn tăng dự trữ hàng. Những nỗ lực tăng tồn kho hàng mua không có kết quả khi hàng tồn kho trước sản xuất đã giảm với tốc độ nhanh nhất trong hơn một năm.

Tồn kho thành phẩm cũng giảm, và đây là lần giảm thứ năm liên tiếp và tốc độ giảm là nhanh hơn tháng Sáu. Một số công ty đã giảm lượng hàng tồn kho trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn, trong khi các công ty khác lại cho biết việc xuất khẩu hàng dễ dàng hơn.

Các nhà sản xuất vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong 12 tháng tới. Tâm lý tích cực phản ánh hy vọng rằng nhu cầu khách hàng sẽ tiếp tục cải thiện, điều kiện thị trường ổn định, sự phát triển sản phẩm mới và hoạt động đầu tư kinh doanh. Gần 58% số người trả lời khảo sát lạc quan về triển vọng sản lượng, trong khi 11% có thái độ bi quan.

“Mặc dù có một số dấu hiệu nhu cầu giảm, vẫn có những diễn biến khả quan về giá cả và áp lực từ phía cung. Tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại nhiều, trong khi chuỗi cung ứng đã gần đạt sự ổn định”, Andrew Harker nói và bổ sung “hy vọng những dấu hiệu cải thiện sẽ thúc đẩy triển vọng sản lượng”.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000