PMI giảm mạnh xuống 51,5 điểm trong tháng 9

11:42 | 01/10/2018

PMI giảm về mức thấp của mười tháng trong tháng 9 do sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm đều tăng chậm hơn. Giá cả đầu ra đã giảm lần đầu tiên trong 13 tháng trong khi tốc độ tăng chi phí đầu vào chậm lại…

TIN LIÊN QUAN
PMI giảm xuống 53,7 điểm trong tháng 8
PMI tháng 7 giảm nhẹ xuống 54,9 điểm

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất của Việt Nam - một chỉ số tổng hợp đo lường kết quả hoạt động của ngành sản xuất - đã giảm mạnh 2,2 điểm, từ mức 53,7 điểm trong tháng 8 xuống còn 51,5 điểm trong tháng 9, theo báo cáo vừa được Nikkei cập nhật.

Theo nguồn tin trên, tốc độ cải thiện sức khỏe của lĩnh vực sản xuất đã chậm lại trong ba tháng liên tiếp, với mức cải thiện điều kiện kinh doanh gần đây nhất là yếu nhất kể từ tháng 11 năm ngoái. Tuy nhiên, các điều kiện hoạt động đã cải thiện hơn trong suốt 34 tháng qua.

Nhân tố chính làm giảm chỉ số PMI trong tháng 9 là cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tăng chậm hơn. Sản lượng ngành sản xuất tăng với tốc độ yếu nhất kể từ tháng 3 khi tăng trưởng đã chậm lại tháng thứ ba liên tiếp. Tình trạng này cũng xảy ra với số lượng đơn đặt hàng mới khi chỉ số này tiếp tục tăng mạnh nhờ nhu cầu khách hàng tăng. Trong khi đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng ở mức vừa phải, và mức tăng là chậm nhất trong 16 tháng.

“Số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn có nghĩa là các công ty đã lại có thể giải quyết lượng công việc tồn đọng trong tháng 9. Lượng công việc chưa thực hiện đã giảm tháng thứ tư liên tiếp. Việc làm trong lĩnh vực sản xuất đã tăng trong tháng 9, như đã được ghi nhận trong hai năm rưỡi vừa qua. Tuy nhiên, tốc độ tạo việc làm là yếu và đã chậm lại thành mức yếu nhất kể từ tháng 8/2017”, theo Nikkei.

Một khía cạnh tích cực hơn là mức độ tự tin trong kinh doanh đã tăng trở lại từ mức thấp kỷ lục của tháng 8. Các kế hoạch phát triển của công ty và kỳ vọng tăng số lượng đơn đặt hàng mới đã hỗ trợ cho tinh thần lạc quan về sản lượng tăng trong năm tới. Mặc dù giá cả đầu vào tiếp tục tăng vào cuối quý ba, tốc độ tăng đã chậm lại và là yếu hơn so với trung bình của lịch sử chỉ số.

Mức tăng chi phí chậm hơn đã giúp các công ty giảm giá cả đầu ra, từ đó kết thúc thời kỳ tăng kéo dài một năm vừa qua. Theo những người trả lời khảo sát, những nỗ lực bảo đảm doanh thu trong bối cảnh các điều kiện thị trường cạnh tranh là nguyên nhân dẫn đến giảm giá đầu ra.

Các nhà sản xuất tiếp tục gia tăng hoạt động mua hàng phù hợp với mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, nhưng mức độ gia tăng đã giảm thành mức thấp của sáu tháng. Tốc độ tăng tồn kho hàng mua cũng chậm lại và chỉ là tăng nhẹ. Trong khi đó, tồn kho hàng hóa thành phẩm đã giảm lần đầu tiên trong ba tháng. Cuối cùng, thời gian giao hàng của nhà cung cấp đã không thay đổi trong tháng 9, sau khi đã bị kéo dài một chút trong tháng trước.

Một số thành viên nhóm khảo sát cho biết thời gian giao hàng được cải thiện nhờ những yêu cầu giao hàng nhanh hơn. Ngược lại, những công ty khác lại cho biết tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu dẫn đến chậm trễ giao hàng.

Tuy nhiên nếu nhìn toàn ASEAN thì Việt Nam vẫn được xếp ở mức khả quan khi chiếm vị trí thứ Hai; chỉ số PMI cũng cao hơn trung bình cả khu vực, ở mức 50,5 điểm trong tháng 9.

Cụ thể, Philippines đứng đầu bảng xếp hạng PMI ngành sản xuất ASEAN trong tháng 9 với các điều kiện hoạt động cải thiện nhanh hơn. Việt Nam, quốc gia có kết quả hoạt động tốt nhất trong tháng 8, đã có lĩnh vực sản xuất tăng chậm hơn đáng kể. Kết quả là, Việt Nam đã lùi về vị trí thứ hai cùng với Malaysia.

Với các nền kinh tế khác, Indonesia lùi về vị trí thứ tư, sau khi có các điều kiện hoạt động cải thiện chậm hơn; trong khi Thái lan có lĩnh vực sản xuất đình trệ trong tháng 9. Singapore và Myanmar tiếp tục có dấu hiệu giảm sút về sức khỏe lĩnh vực sản xuất.

AQ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.830 24.140 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.860 24.140 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.840 24.140 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.880 24.180 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.830 24.100 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.850 24.110 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.828 24.150 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.680 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.840 24.120 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.250
67.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.250
67.050
Vàng SJC 5c
66.250
67.070
Vàng nhẫn 9999
53.250
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.050
53.850