PMI giảm xuống 53,7 điểm trong tháng 8

10:34 | 04/09/2018

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (Purchasing Managers’ Index - PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam của Nikkei - một chỉ số tổng hợp về kết quả hoạt động của ngành sản xuất - chỉ đạt 53,7 điểm trong tháng 8/2018, giảm 1,2 điểm so với mức 54,9 điểm của tháng 7.

Kết quả trên phản ánh mức cải thiện yếu nhất về các điều kiện hoạt động kinh doanh trong bốn tháng gần đây, tuy nhiên vẫn duy trì ở khu vực cải thiện trên 50 điểm, đã được xác lập trong khoảng một năm rưỡi qua.

Theo Nikkei, các công ty sản xuất Việt Nam tiếp tục có số lượng đơn đặt hàng mới tăng trong tháng 8. Mặc dù tốc độ tăng đã giảm đi, mức tăng vẫn là mạnh với các báo cáo cho thấy nhu cầu khách hàng đang cải thiện.

Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tiếp tục tăng trong tháng, nhưng mức độ tăng nhỏ hơn so với tổng số lượng đơn đặt hàng mới. Trong khi đó, lượng công việc tồn đọng đã giảm nhẹ trong ba tháng liên tiếp.

“Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng mạnh đã giúp sản lượng ngành sản xuất tiếp tục tăng trong tháng. Mức tăng sản lượng trong tháng 8 là mạnh, mặc dù là chậm nhất kể từ tháng 4”, báo cáo của Nikkei cho biết.

Đồng thời, việc làm đã tăng chậm lại, với tốc độ tạo việc làm trong tháng 8 là yếu hơn nhiều so với mức cao kỷ lục của tháng 6. Ở những nơi có lượng nhân viên tăng, nguyên nhân được cho là do khối lượng công việc tăng.

Việc làm đã tăng liên tục theo tháng trong gần hai năm rưỡi qua. Tốc độ tăng hoạt động mua hàng vẫn cao trong tháng 8 khi các công ty đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới nhiều hơn và lập kế hoạch cho tăng trưởng sản lượng trong tương lai.

Những nỗ lực tăng hàng tồn kho nói chung đã mang lại kết quả. Tồn kho hàng mua đã tăng 5 tháng liên tiếp và với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 2. Tồn kho hàng thành phẩm cũng tăng và đây là lần tăng thứ hai liên tiếp.

Giá cả đầu vào tiếp tục tăng mạnh, mặc dù với tốc độ chậm hơn. Ở những nơi có chi phí đầu vào tăng, nguyên nhân được cho là do giá nguyên vật liệu tăng và đồng Việt Nam giảm giá so với USD.

Chi phí đầu vào tăng đã góp phần làm tăng giá cả đầu ra. Tuy nhiên, tốc độ tăng giá đã chậm lại thành mức thấp của thời kỳ ba tháng trong bối cảnh áp lực cạnh tranh.

Tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu góp phần làm thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài hơn trong tháng 8, sau khi đã không thay đổi trong tháng trước.

Mặc dù nói chung vẫn tích cực, mức độ lạc quan của các nhà sản xuất Việt Nam giảm mạnh trong tháng 8, và đây là mức thấp nhất kể từ khi khảo sát bắt đầu vào tháng 4/2012. Theo những người trả lời khảo sát, mức độ lạc quan tích cực đã phản ánh kỳ vọng về việc nhu cầu khách hàng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng.

“Mặc dù tăng trưởng sản lượng đã chậm lại trong tháng 8, lĩnh vực sản xuất của Việt Nam thời điểm hiện tại có vẻ như có một cơ sở vững vàng nhờ khả năng tiếp tục duy trì số lượng đơn đặt hàng mới.” - Andrew Harker, Phó Giám đốc tại IHS Markit, công ty thu thập kết quả khảo sát, bình luận.

“Tuy nhiên, mức độ lạc quan trong kinh doanh đã giảm thành mức thấp nhất kể từ khi bắt đầu khảo sát vào đầu năm 2012, từ đó cho thấy những quan ngại về dòng chảy thương mại quốc tế có thể bắt đầu ảnh hưởng đến các công ty Việt Nam trong những tháng tới.”

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000