PMI tháng 11 phục hồi lên 51 điểm, mức cao nhất 3 tháng

11:25 | 02/12/2019

Lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đã tăng trưởng trở lại trong tháng 11, khi sản lượng tăng lần đầu tiên trong ba tháng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng nhanh hơn. Việc làm cũng tăng trở lại khi bước vào giữa quý cuối của năm. Trong khi đó, tốc độ tăng chi phí đã giảm bớt thành mức thấp của 11 tháng, với giá cả đầu ra giảm tương ứng.

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của Việt Nam đạt 51 điểm trong tháng 11, tăng so với mức trung tính 50 điểm của tháng 10. Chỉ số PMI báo hiệu mức cải thiện nhẹ của sức khỏe lĩnh vực sản xuất. Các điều kiện kinh doanh đã mạnh lên trong suốt bốn năm qua trừ một tháng ngoại lệ.

Sản lượng tháng 11 đã tăng lần đầu tiên trong ba tháng sau khi giảm nhẹ trong tháng 9 và tháng 10.

Ở những phân khúc có sản lượng tăng, các thành viên nhóm khảo sát cho rằng nguyên nhân là nhờ số lượng đơn đặt hàng mới tăng và tăng nhanh hơn so với tháng 10. Số lượng đơn đặt hàng mới cho đến nay đã tăng suốt bốn năm qua. Nhu cầu khách hàng được cải thiện và việc thu hút được khách hàng mới được cho là nguyên nhân dẫn đến tăng số lượng đơn đặt hàng mới. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tăng nhanh hơn trong tháng 11.

Việc làm tăng lần đầu tiên trong ba tháng khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng. Mặc dù năng lực sản xuất tăng và sản lượng tăng trở lại, các công ty vẫn có lượng công việc tồn đọng tăng nhẹ.

Dữ liệu mới nhất cho thấy lĩnh vực sản xuất tiếp tục không chịu áp lực lạm phát. Chi phí đầu vào chỉ tăng nhẹ với tốc độ yếu nhất trong thời kỳ tăng kéo dài 11 tháng qua. Việc thiếu áp lực lạm phát lên chi phí đầu vào cho thấy các nhà sản xuất tiếp tục có thể chiết khấu giá bán cho khách hàng. Giá cả đầu ra trong tháng 10 giảm, sau khi tăng lần đầu trong gần một năm.

Nhu cầu hỗ trợ tăng sản lượng trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng mới tăng đã khuyến khích các công ty tăng hoạt động mua hàng trong tháng 11. Hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng nhẹ sau khi không thay đổi trong tháng trước, và đã góp phần làm tăng tồn kho hàng mua.

Nỗ lực mua hàng của các công ty được hỗ trợ bởi yếu tố thời gian giao hàng của nhà cung cấp nhanh hơn lần đầu tiên trong bốn tháng.

Trong khi đó, hàng tồn kho thành phẩm đã giảm tháng thứ hai liên tiếp. Một số thành viên nhóm khảo sát cho biết họ đã sử dụng hàng tồn kho sau sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới sau khi sản lượng giảm nhẹ trong những tháng trước.

Mức độ lạc quan trong kinh doanh đã giảm so với tháng 10, nhưng vẫn ở mức lạc quan khi có khoảng hai phần năm số người trả lời khảo sát dự báo tăng sản lượng trong năm tới. Theo những người tham gia khảo sát, tình trạng lạc quan có được chủ yếu là do kỳ vọng tăng số lượng đơn đặt hàng mới và nỗ lực gia tăng năng lực sản xuất.

Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam, Andrew Harker, Phó Giám đốc tại IHS Markit, công ty thu thập kết quả khảo sát,  cho biết một số tin tức tích tực về lĩnh vực sản xuất Việt Nam đã xuất hiện ở bộ dữ liệu PMI kỳ mới nhất, với sản lượng tăng lần đầu tiên trong ba tháng và việc làm cũng đã tăng trở lại. Điều này cho thấy giai đoạn trì trệ gần đây có thể sẽ kết thúc.

“Các công ty vẫn đang cố gắng vực dậy ở mức độ nào đó từ tình trạng hạn chế về sản lượng và năng lực sản xuất trong những tháng gần đây. Tuy nhiên, lượng công việc tồn đọng tiếp tục tăng và cần sử dụng hàng tồn kho để hỗ trợ cho sản xuất. Điều này báo trước xu hướng tăng sản lượng và việc làm trong những tháng tới khi các công ty tiếp tục nỗ lực đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng”, Andrew Harker nói.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950