PMI tháng 9 đạt 52,2 điểm, cao nhất 13 tháng

10:45 | 01/10/2020

Lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đã tăng trưởng trở lại trong tháng 9 giữa bối cảnh những quan ngại về đại dịch Covid-19 ở trong nước giảm bớt. Cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tăng, trong khi niềm tin kinh doanh cải thiện hơn, và tốc độ giảm việc làm chậm lại.

pmi thang 9 dat 522 diem cao nhat 13 thang

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất của Việt Nam, được IHS Markit sáng nay (1/10), đã tăng trở lại lên trên ngưỡng trung tính 50 điểm trong tháng 9 khi đạt 52,2 điểm - cải thiện nhiều so với 45,7 điểm của tháng 8.

“Sau khi có sự gia tăng số ca nhiễm Covid-19 vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8, lĩnh vực sản xuất đã bị trệch khỏi hướng hồi phục trong tháng 8, tuy nhiên kết quả chỉ số PMI tháng 9 đã tích cực hơn nhiều”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nói.

Kết quả chỉ số đã cho thấy các điều kiện kinh doanh đã cải thiện lần đầu trong ba tháng, và đây là mức cải thiện đáng kể nhất kể từ tháng 8/2019.

“Các số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy việc kiểm soát đại dịch Covid-19 là nhân tố chủ chốt giúp hỗ trợ cải thiện các điều kiện kinh doanh, sau khi số ca nhiễm bệnh tăng lên trong kỳ báo cáo trước, IHS Markit cho biết.

Số ca nhiễm bệnh giảm đã góp phần đẩy mạnh nhu cầu khách hàng, từ đó làm tăng mạnh số lượng đơn đặt hàng mới. Số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài cũng tăng trong tháng 9, và đây là lần tăng đầu tiên kể từ tháng 1.

Sản lượng cũng tăng mạnh, và được hỗ trợ bởi số lượng đơn đặt hàng mới tăng. Trên thực tế, mức tăng sản lượng là mạnh nhất trong 14 tháng.

Niềm tin kinh doanh cũng cải thiện vào cuối quý III của năm khi tăng mạnh thành mức cao nhất kể từ tháng 7/2019.

“Với khả năng kiểm soát đại dịch được duy trì trở lại, các công ty đã có số lượng đơn đặt hàng mới tăng, từ đó tăng sản lượng và tâm lý lạc quan là cao nhất trong hơn một năm” Andrew Harker nói.

Số lượng đơn đặt hàng mới dự báo tăng được kỳ vọng làm tăng sản lượng trong năm tới, nhưng một số công ty cho biết kỳ vọng tích cực đó còn tùy thuộc vào khả năng vẫn kiểm soát được đại dịch trong nước.

Đáng chú ý, một diễn biến mới trong kỳ khảo sát gần đây là số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tăng trở lại lần đầu tiên kể từ khi đại dịch bắt đầu. “Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy nhu cầu quốc tế đã hỗ trợ tốt hơn cho sự phục hồi của khu vực sản xuất”, Andrew Harker bình luận.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng đã khuyến khích các nhà sản xuất tăng hoạt động mua hàng lần đầu tiên trong ba tháng, và mức tăng là mạnh. Hoạt động mua hàng tăng đã góp phần làm hàng tồn kho trước sản xuất tiếp tục tăng. Một số thành viên nhóm khảo sát cho biết muốn tăng hàng dự trữ.

Hàng tồn kho thành phẩm cũng tăng, và tốc độ tăng nằm trong số nhanh nhất kể từ khi khảo sát bắt đầu vào tháng 3/2011. Một số thành viên nhóm khảo sát cho rằng tồn kho tăng là do sản lượng tăng, nhưng những thành viên khác lại cho rằng doanh thu bán hàng đã thấp hơn dự kiến.

Trong khi các công ty tăng hoạt động mua hàng để đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tăng, họ đã tiếp tục giảm số lượng nhân công vào cuối quý III. Trong một số trường hợp, lực lượng lao động giảm là do tình trạng nghỉ việc. Việc làm đã giảm trong suốt tám tháng qua, mặc dù lần giảm gần đây là yếu nhất trong khoảng thời gian này.

Mặc dù số lượng nhân công giảm, các công ty vẫn có thể kiểm soát được khối lượng công việc, với bằng chứng là lượng công việc chưa thực hiện tiếp tục giảm.

Tốc độ tăng chi phí đầu vào đã tăng thành mức cao của 22 tháng và gần như ngang bằng với mức trung bình của lịch sử chỉ số.

Các thành viên nhóm khảo sát cho rằng nguyên nhân giá cả đầu vào tăng là do thiếu hụt nguồn cung nguyên vật liệu. Đây cũng là nhân tố làm cho thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài. Tuy nhiên, mức độ kéo dài của thời gian giao hàng là thấp nhất kể từ tháng 1.

Để đối phó với chi phí đầu vào tăng, các công ty đã tăng giá cả đầu ra lần đầu tiên trong tám tháng gần đây. Tuy nhiên, tốc độ tăng giá chỉ là nhẹ trong bối cảnh áp lực cạnh tranh còn lớn.

Nhìn nhận về triển vọng ngành sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, Andrew Harker lưu ý rằng việc duy trì xu hướng tích cực còn phục thuộc vào việc số ca nhiễm virus sẽ không tăng trở lại.

Phương Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.075 23..287 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.830
56.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.830
56.330
Vàng SJC 5c
55.830
56.350
Vàng nhẫn 9999
53.430
53.930
Vàng nữ trang 9999
52.930
53.630