PMI xuống thấp nhất 6 tháng do thiếu hụt lao động vì COVID-19

09:20 | 01/04/2022

COVID-19 khiến tình trạng thiếu hụt lao động trở nên phổ biến trong lĩnh vực sản xuất trong tháng 3, điều này đã khiến sản lượng của các công ty cũng giảm và kéo theo. Kết quả là ngành sản xuất của Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm xuống mức thấp nhất 6 tháng, theo S&P Global.

Kết quả là chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam đã giảm từ 54,3 điểm của tháng 2 xuống còn 51,7 điểm trong tháng 3 - mức thấp nhất kể từ tháng 10/2021.

pmi xuong thap nhat 6 thang do thieu hut lao dong vi covid 19

"Mặc dù nhìn chung các điều kiện kinh doanh đang tốt lên, mức độ cải thiện kỳ này là ít đáng kể nhất trong thời kỳ tăng trưởng kéo dài sáu tháng gần đây. Nguyên nhân chính khiến tốc độ cải thiện tổng thể giảm là làn sóng đại dịch COVID-19 hiện nay ở Việt Nam", theo ghi nhận của S&P Global.

Một trong những ảnh hưởng chính lên các công ty là tình trạng nhiễm bệnh lan rộng trong công nhân, từ đó khiến việc làm giảm lần đầu tiên trong bốn tháng. Tình trạng thiếu hụt nhân công khiến các công ty không thể duy trì khối lượng sản xuất và sản lượng đã giảm lần đầu tiên trong sáu tháng.

Áp lực lạm phát cũng đã góp phần làm giảm sản lượng, tuy nhiên mức giảm chỉ là nhẹ khi một số công ty đã tăng sản lượng tương ứng với mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới.

Khó khăn trong việc tăng sản lượng do thiếu lao động đã khiến lượng công việc tồn đọng tiếp tục tăng và mức tăng kỳ này là đáng kể nhất kể từ tháng 9 năm ngoái.

Những vấn đề xung quanh đại dịch và giá cả tăng cũng ảnh hưởng đến số lượng đơn đặt hàng mới vào cuối quý I. Tuy nhiên, cả tổng số lượng đơn đặt hàng mới và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đều tăng trong sáu tháng liên tiếp.

Việc sử dụng hàng tồn kho đã giúp đáp ứng yêu cầu đơn hàng trong điều kiện khó tăng sản lượng. Tình trạng này khiến tồn kho hàng thành phẩm đã giảm lần đầu tiên trong ba tháng.

Áp lực lạm phát nói trên được thể hiện ở cả hai chỉ số giá cả của khảo sát trong tháng 3.

Tốc độ tăng chi phí đầu vào đã nhanh hơn và đạt mức tăng nhanh nhất trong gần 11 năm. Hơn nửa số người trả lời khảo sát cho biết giá cả đầu vào của họ đã tăng so với tháng trước, và nguyên nhân được nhắc tới là chi phí dầu và khí đốt tăng. Giá nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển tăng cũng được nhắc đến.

Để bù đắp, các nhà sản xuất đã tăng nhanh hơn giá bán hàng. Trên thực tế, tốc độ tăng giá là nhanh nhất kể từ tháng 11 năm ngoái khi mức cao của mười năm rưỡi được ghi nhận.

Mặc dù hoạt động mua hàng tăng nhẹ trong tháng 3, tốc độ tăng đã chậm lại nhiều và là mức tăng yếu nhất trong thời kỳ tăng kéo dài sáu tháng gần đây.

Tồn kho hàng mua cũng tăng ở mức khiêm tốn. Trong bối cảnh yêu cầu sản xuất hiện tại giảm, tình trạng tăng hàng chủ yếu phản ánh những nỗ lực tăng hàng dự trữ.

Một loạt các nhân tố dẫn đến kéo dài thời gian giao hàng của nhà cung cấp trong tháng 3, bao gồm những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 như thiếu hụt lao động và những hạn chế tại biên giới với Trung Quốc.

Chiến tranh ở Ukraine cũng góp phần gây chậm trễ giao hàng và thời gian giao hàng nhìn chung bị kéo dài với mức độ cao nhất kể từ tháng 10 năm ngoái.

Mức độ trầm trọng của làn sóng đại dịch COVID-19 mới nhất và những lo lắng về áp lực lạm phát đã làm giảm kỳ vọng về tương lai. Niềm tin kinh doanh đã giảm thành mức thấp nhất trong sáu tháng. Tuy nhiên, các công ty vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới dựa trên hy vọng rằng đại dịch sẽ suy yếu và số lượng đơn đặt hàng mới sẽ tăng.

“Trong khi các công ty hy vọng mức độ nhiễm bệnh sớm giảm bớt, và ảnh hưởng của nó cũng nhẹ đi, chiến tranh ở Ukraine lại tiếp tục gây cản trở. Ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất cho các công ty Việt Nam trong tháng 3 là về giá cả. Chi phí đầu vào đã tăng mạnh nhất trong gần 11 năm khi chi phí mua dầu và khí đốt tăng sau khi chiến tranh nổ ra. Điều này đã làm tiêu tan hy vọng rằng áp lực lạm phát có thể dịu đi trong những tháng tới”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global, lưu ý.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700