Quan chức Fed lo ngại phục hồi sẽ khó khăn

10:50 | 10/07/2020

Một số quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tỏ ra nghi ngờ về mức độ bền vững của đà phục hồi kinh tế hiện nay, trong khi các cuộc khảo sát kinh doanh mới nhất nhấn mạnh những rủi ro vẫn gia tăng không ngừng vì đại dịch Covid-19.

Bảng cân đối kế toán của Fed dưới 7 nghìn tỷ USD, giao dịch repo lần đầu tiên xuống 0 kể từ tháng 9
Các quan chức Fed: Thông điệp điều hành phải rõ hơn
Tác động từ các chương trình cho vay của FED

Theo đó, Chủ tịch Fed Atlanta, Raphael Binto và Chủ tịch Fed Boston, Eric Rosengren và Chủ tịch Fed Richmond, Thomas Barkin đều lưu ý về nguy cơ nền kinh tế đối mặt với những “túi khí” – hoàn cảnh mà các DN đang dần cạn kiệt với các đơn hàng hiện tại mà không có được các đơn hàng mới, trong khi các hộ gia đình đối mặt với sự kết thúc của trợ cấp thất nghiệp tăng cường và các hỗ trợ khác. Chủ tịch Fed Richmond, Thomas Barkin cho rằng, trong giai đoạn đầu của đại dịch, các DN như trong lĩnh vực xây dựng tiếp tục phát triển tốt với những đơn hàng, hợp đồng đã có. Nhưng các đơn đặt hàng mới không đến như kỳ vọng. “Rồi chúng ta có các khoản hỗ trợ tài khóa sắp kết thúc và không rõ điều gì sẽ thay thế chúng. Trợ cấp thất nghiệp tăng cường – yếu tố quan trọng giúp bù đắp cho thu nhập mất đi trong bối cảnh thất nghiệp cao kỷ lục – cũng sẽ hết hạn trong tháng này”, ông Barkin nói.

Ảnh minh họa

Trong khi đó, kinh tế Mỹ hiện vẫn đang chật vật vì số ca nhiễm Covid-19 tiếp tục tăng lên các mức cao mới. Số ca nhiễm Covid-19 đang tăng mạnh tại nhiều bang khiến động lực để tái mở cửa các hoạt động kinh tế phải tạm dừng lại.Tuy nhiên Chủ tịch Fed Boston, Eric Rosengren cho biết không quá lo ngại về việc các bang ở miền nam tái mở cửa sớm dù vẫn luôn cần chú ý đến những hoạt động có nhiều rủi ro nhất.

Những bình luận từ giới chức Fed cho thấy đà phục hồi của việc làm, doanh số bán lẻ… trong tháng 5 và 6 vừa qua có thể không kéo dài. Điều này càng được củng cố bởi kết quả hai khảo sát DN công bố ngày 8/7. Cụ thể theo khảo sát hàng quý do Fed Atlanta, Fed Richmond và Đại học Duke thực hiện với hơn 500 giám đốc tài chính (CFO), những người được hỏi nhìn chung lo ngại nhu cầu sử dụng sản phẩm của họ sẽ giảm và đà phục hồi việc làm sẽ chậm lại trong năm nay. Trong khi đó, Chỉ số tâm lý hàng quý do Hội nghị Các giám sát viên Ngân hàng Tiểu bang (CSBS) vừa công bố hiện chỉ ở mức 90, thấp hơn nhiều so với mức trung lập 100, và mức 122 vào mùa thu năm ngoái, cho thấy cộng đồng ngân hàng đang khá bi quan về tình hình hiện nay. Tuy nhiên, cũng có các quan chức Fed tỏ ra ít bi quan hơn. Như Chủ tịch Fed St. Louis, James Bullard cho rằng, đeo khẩu trang để phòng chống dịch sẽ trở nên “phổ biến” và tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm trở lại vào cuối năm nay.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.600
62.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.600
62.200
Vàng SJC 5c
60.600
62.220
Vàng nhẫn 9999
56.250
57.550
Vàng nữ trang 9999
55.850
57.250