Quản lý rủi ro tốt hơn khi áp dụng chuẩn mực IFRS 9

07:30 | 23/09/2018

Áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế 9 (IFRS 9) là chìa khóa để các ngân hàng Việt Nam hướng đến tiêu chuẩn toàn cầu.

Để giúp các ngân hàng Việt Nam chuẩn bị tốt nhất cho việc triển khai IFRS 9, PwC Việt Nam phối hợp cùng SAS Malaysia đã tổ chức hội thảo chủ đề “Triển khai IFRS 9 - Đón đầu Cơ hội và Thách thức” ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh trong hai ngày 20 và 21/9/2018.

Hội thảo đã thu hút hơn 100 lãnh đạo và chuyên gia quản lý rủi ro, tài chính và công nghệ thông tin của các ngân hàng thương mại và công ty tài chính Việt Nam. Tại đây, các chuyên gia của PwC và SAS đã chia sẻ những kiến thức chuyên sâu về IFRS 9 và những kinh nghiệm thực tế để vượt qua với những thách thức trong triển khai IFRS 9.

Hội thảo thu hút các chuyên gia quản lý rủi ro, tài chính và công nghệ thông tin của các ngân hàng

Dù chưa bắt buộc tại Việt Nam, nhiều ngân hàng hiện đang thực hiện hoặc có kế hoạch chuyển đổi hệ thống báo cáo tài chính theo chuẩn mực IFRS 9 để phù hợp với các thông lệ tốt nhất toàn cầu, củng cố hoạt động kinh doanh thông qua việc cải thiện phương thức báo cáo quản trị, quản lý rủi ro tốt hơn, đồng thời tăng sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Phát biểu tại hội thảo về định hướng của Bộ Tài Chính trong xây dựng đề án triển khai áp dụng IFRS tại Việt Nam, ông Lưu Đức Tuyên, Phó cục trưởng Cục quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán, Bộ Tài chính cho biết: Đề án triển khai IFRS sau khi xây dựng xong sẽ được trình Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện.

"Nội dung cơ bản của đề án sẽ chia các doanh nghiệp Việt Nam thành 3 nhóm: nhóm các doanh nghiệp sẽ áp dụng toàn bộ IFRS, nhóm các doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán Việt Nam (Chuẩn mực kế toán Việt Nam sẽ được bổ sung và sửa đổi trên cơ sở cập nhật những thay đổi của IFRS phù hợp với đặc thù của Việt Nam) và nhóm các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Quá trình chuyển đổi sẽ được thực hiện từ khi đề án được phê duyệt (dự kiến 2019-2020) và tiến hành trong thời gian phù hợp với nguyên tắc đảm bảo khả năng thực hiện của các doanh nghiệp.” - ông Tuyên nói.

Tại hội thảo, bà Đinh Hồng Hạnh, Phó Tổng Giám đốc Dịch vụ Tư vấn tại Công ty Tư vấn PwC Đông Nam Á cho biết, những thay đổi quan trọng nhất của IFRS 9 với các ngân hàng Việt Nam là khả năng tăng trích lập dự phòng tổn thất tín dụng được ước tính bằng giá trị tổn thất trong tương lai.

Do IFRS 9 đưa ra mô hình tổn thất tín dụng dự kiến (Expected Credit Loss-ECL), áp dụng cho tất cả các công cụ tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng, các ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng cho các khoản tổn thất trong tương lai, ngược với thực tiễn hiện hành là chỉ trích lập dự phòng cho các tổn thất đã phát sinh theo quy định trong chuẩn mực IAS 39. Các mô hình rủi ro tín dụng mới sẽ cần phải được phát triển bằng cách sử dụng dữ liệu lịch sử về tổn thất tín dụng và các biến số kinh tế vĩ mô để ước tính tổn thất dự kiến trong tương lai.

Liên quan đến tác động của mô hình rủi ro tín dụng mới, các chuyên gia của PwC dự đoán tổn thất dự phòng sẽ tăng khi dịch chuyển từ mô hình tổn thất đã phát sinh sang mô hình tổn thất tín dụng dự kiến. Một cuộc khảo sát gần đây của các ngân hàng Malaysia dựa trên kết quả báo cáo Quý 1 tiết lộ rằng, trích lập dự phòng đã tăng từ 25% đến 50% vào ngày đầu tiên áp dụng IFRS 9, và điều này tác động trực tiếp đến lợi nhuận giữ lại.

Ông Ching Chuan Ong, Lãnh đạo Dịch vụ Tài chính của PwC Malaysia cho biết: “Triển khai IFRS 9 sẽ là chìa khóa cho các ngân hàng Việt Nam muốn cung cấp thông tin tài chính minh bạch và thống nhất với các tiêu chuẩn toàn cầu. Một số thách thức khi triển khai sẽ liên quan đến việc đánh giá mô hình kinh doanh và thực hiện Công cụ đánh giá Thanh toán thuần gốc và lãi (SPPI) để phân loại tài sản và thực hiện tính toán dự phòng tổn thất dựa trên khái niệm tổn thất tín dụng dự kiến. Điều này có thể dẫn đến một cuộc đại tu về các chiến lược đầu tư và quản lý tín dụng”.
 
Trong khi đó, ông Antonie Jagga, Phó Tổng giám đốc Dịch vụ Quản lý Rủi ro Tài chính tại PwC Đông Nam Á bổ sung: Các mô hình tổn thất tín dụng dự kiến sẽ cho phép các ngân hàng Việt Nam quản lý rủi ro tốt hơn, phù hợp với các thông lệ tốt nhất trên toàn cầu.

Đồng thời, ông nhấn mạnh rằng chất lượng và tính sẵn có của dữ liệu sẽ là yếu tố quan trọng để triển khai thành công các mô hình rủi ro của IFRS 9. Các ngân hàng sẽ cần lượng dữ liệu lịch sử lớn với một danh sách đầy đủ các thông tin đầu vào của mô hình. Các ngân hàng có thể tận dụng các mô hình Basel hiện có nhưng vẫn cần điều chỉnh cùng các yếu tố vĩ mô để áp dụng tính toán tổn thất tín dụng dự kiến theo IFRS 9.

Trình độ chuyên môn của các đội ngũ kế toán và quản trị rủi ro sẽ ảnh hưởng đến khả năng áp dụng IFRS 9. Với mức độ phức tạp ngày càng gia tăng của mô hình tổn thất tín dụng dự kiến, ngân hàng cần nâng cao mức độ truyền thông nội bộ và hợp tác giữa bộ phận quản lý rủi ro và tài chính để nâng cao khả năng triển khai IFRS 9.

“IFRS 9 mang đến cơ hội cho các ngân hàng ở Việt Nam thiết lập một nền tảng tích hợp giữa Rủi ro-Tài chính, thúc đẩy sự tuân thủ và tăng cường hệ thống quản lý rủi ro tín dụng. Điều này sẽ đem lại một hệ thống ngân hàng vững mạnh và giúp các ngân hàng Việt Nam định vị chỗ đứng để cạnh tranh trên sân chơi toàn cầu”, chia sẻ từ James Clarke, Giám đốc Tư vấn kinh doanh Rủi ro tại SAS châu Á-Thái Bình Dương.

“Là đơn vị dẫn đầu thị trường trong triển khai IFRS 9, PwC Việt Nam mang đến thị trường một giải pháp đầu-cuối toàn diện cho IFRS 9. Với mạng lưới chuyên gia giàu kinh nghiệm đến từ các văn phòng PwC Đông Nam Á và trên toàn cầu, PwC Việt Nam có nhiều kinh nghiệm để giúp các doanh nghiệp vượt qua tính phức tạp của IFRS 9 và triển khai thành công chuẩn mực tài chính này”, bà Hạnh chia sẻ.

Để vượt qua thách thức kể trên, bà Hạnh nhấn mạnh tầm quan trọng của phương thức đầu-cuối, từ việc cung cấp phân tích chênh lệch và phạm vi ban đầu đến phát triển một giải pháp báo cáo IFRS 9 được thiết kế riêng. PwC Việt Nam sẽ sử dụng phân tích định lượng tiên tiến để triển khai giải pháp IFRS 9 và sẽ được chuyển giao liên tục thành một quy trình báo cáo hợp lý trong khi đảm bảo doanh nghiệp có các công cụ cần thiết để duy trì và cập nhật báo cáo tài chính theo IFRS 9.

T.Trúc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530