Quan trên trông xuống, người ta trông vào…

16:00 | 23/04/2018

Cho dù năm 2017 rất nhiều NHTM đạt được mức tăng trưởng ngoạn mục về chỉ tiêu lợi nhuận; và hiện vẫn có nhiều yếu tố tích cực, hứa hẹn một năm kinh doanh hiệu quả nữa, nhưng đa số NH vẫn khá thận trọng khi đặt kế hoạch về mức tăng trưởng lợi nhuận năm 2018.

Tổng giám đốc ACB không được chấp thuận bầu vào HĐQT
Trăn trở mùa đại hội cổ đông
Lạc quan trước mùa đại hội

Có thể nói tuần qua là cao điểm của mùa đại hội khi hàng loạt NHTMCP tổ chức đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) năm 2018, trong đó có hai NHTMCP lớn là BIDV và VietinBank cùng tổ chức vào ngày 21/4. Như các mùa đại hội trước, năm nay cổ đông của NH vẫn quan tâm nhiều nhất đến ba nội dung: Nhân sự; kế hoạch hoạt động kinh doanh 2018, trong đó nhấn mạnh vấn đề chỉ tiêu lợi nhuận; và tỷ lệ chia cổ tức.

Ảnh minh họa

Tạm đặt qua một bên những ồn ào và không ít bất ngờ về thay đổi nhân sự trong HĐQT của các NH vừa tổ chức ĐHCĐ; sự vui mừng, háo hức về tỷ lệ chia cổ tức cao; và rất nhiều kỳ vọng về cổ phiếu… để nhìn vào mục tiêu lợi nhuận 2018 mà các NH đưa ra.

Qua lâu rồi cái thời các NH “đánh bóng” tên tuổi bằng những con số lợi nhuận khủng. Song thực tế đây vẫn là chỉ tiêu rất được cổ đông quan tâm trong kế hoạch hoạt động kinh doanh hàng năm của NH. Vì nếu NH không có mức lợi nhuận hấp dẫn thì khó lòng thu hút nhà đầu tư, nhất là giữ chân các nhà đầu tư lâu dài. Nhưng đưa ra chỉ tiêu cao về lợi nhuận, mà không hiện thực hóa được mục tiêu thì uy tín của ban lãnh đạo NH sẽ bị ảnh hưởng. Chưa kể, mức lợi nhuận cao sẽ đặc biệt gây “chú ý” đối với nhà quản lý. Vậy NH nên đưa ra con số nào để “quan trên trông xuống, người ta trông vào“ đều chấp nhận được?

Cùng tham khảo về chỉ tiêu lợi nhuận ở một số NH. Theo tài liệu được công bố tại ĐHCĐ hôm 20/4, năm 2017 lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Sacombank là 1.492 tỷ đồng, gấp 9,6 lần so với năm trước, đạt 255% kế hoạch đặt ra. Có thể nói đây là mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng trong toàn hệ thống TCTD. Nhưng năm nay, Sacombank khiêm tốn đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.838 tỷ đồng, tăng 23,2% so với 2017. Tổ chức ĐHCĐ hôm 21/4, HDBank đưa ra con số lợi nhuận trước thuế năm 2017 đạt 2.417 tỷ đồng, hoàn thành 186% kế hoạch. Năm 2018, NH này dự kiến lợi nhuận trước thuế sẽ tăng gần 63% lên 3.933 tỷ đồng.

Với BIDV, năm 2017 lợi nhuận trước thuế hợp nhất toàn hệ thống đạt 8.800 tỷ đồng. Năm 2018, BIDV đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 9.300 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2017. Đáng chú ý, VietinBank đã không đưa ra mục tiêu lợi nhuận 2018. Trả lời về vấn đề này tại buổi họp ĐHCĐ hôm 21/4, lãnh đạo NH cho biết kế hoạch đã có nhưng đang trình NHNN và Bộ Tài chính để xem xét, sẽ thông báo cho cổ đông sau. Năm 2017 lợi nhuận trước thuế của VietinBank là 9.206 tỷ đồng năm 2017, hoàn thành 105% kế hoạch.

Cũng là NHTM Nhà nước, Vietcombank dự kiến sẽ tổ chức ĐHCĐ vào ngày 27/4 tới đây. Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2018, NH công bố lợi nhuận trước thuế năm 2017 đạt 11.018 tỷ đồng, tăng 33% so với năm 2016. Năm 2018 Vietcombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 12.000 tỷ đồng.

Một số NHTMCP đã tổ chức ĐHCĐ cũng đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận không cao. Năm 2017 VPBank đạt lợi nhuận trước thuế 8.130 tỷ đồng - cao nhất từ trước đến nay, tăng 65% so với năm 2016. Nhưng năm 2018, VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế ở mức 10.800 tỷ đồng, tăng 33% so năm 2017. Techcombank kết thúc năm 2017 với lợi nhuận trước thuế hơn 8.000 tỷ đồng. Đây là năm thứ hai liên tiếp NH này đạt được lợi nhuận tăng gấp đôi so với năm trước liền kề. Sang năm 2018, Techcombank cũng chỉ đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế ở mức 10.000 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2017.

Khiêm tốn nhất có lẽ là LienVietPostBank. Năm 2017 NH này đạt lợi nhuận trước thuế 1.768 tỷ đồng, tăng khoảng 31% so với năm 2016. Nhưng năm nay LienVietPostBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.800 tỷ đồng, tăng chưa đến 2% so với thực hiện năm 2017. Chúng tôi muốn "Lùi một bước tiến ba bước"… đó là lý giải của ông Phạm Doãn Sơn - Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng giám đốc LienVietPostBank về con số này.

Như vậy có thể thấy xu hướng chung của các NH vẫn là đưa ra chỉ tiêu lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước. Cho dù năm 2017 rất nhiều NHTM đạt được mức tăng trưởng ngoạn mục về chỉ tiêu lợi nhuận; và hiện vẫn có nhiều yếu tố tích cực, hứa hẹn một năm kinh doanh hiệu quả nữa, nhưng đa số NH vẫn khá thận trọng khi đặt kế hoạch về mức tăng trưởng lợi nhuận năm 2018.

An Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.260 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.264 23.550 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800