Quay lại sân nhà không dễ

07:00 | 10/04/2020

Nhiều hiệp hội ngành hàng, đại diện DN cho rằng cần thúc đẩy, kêu gọi người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trong bối cảnh hàng hóa khó khăn về đầu ra do dịch Covid-19. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy giải pháp này chỉ tháo gỡ được một phần bài toán đầu ra cho các ngành sản xuất chủ lực.

Đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa

TS. Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khẳng định, thời điểm hiện tại việc liên kết các DN là vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, DN cũng cần vững chân khai thác tốt thị trường nội địa. “Sau đại dịch, tôi nghĩ các nước đều sẽ quan tâm hơn đến thị trường trong nước của họ”, ông Lộc nhận định.

Đồng quan điểm, bà Vũ Kim Hạnh - Chủ tịch Hiệp hội Hàng Việt Nam chất lượng cao cũng đề nghị, Chính phủ cần thúc đẩy, kêu gọi người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bởi DN đang hết sức khó khăn khi hàng tồn kho cao, nhà phân phối tại các nước từ chối nhận hàng vì không bán được.

Nhiều ngành sản xuất có năng lực vượt xa nhu cầu tiêu dùng nội địa

Bộ Công Thương cũng nhận định, đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường cho các ngành sản xuất trong nước sẽ là giải pháp then chốt trong thời gian tới. Theo đó, những ngày vừa qua, cơ quan này đã ban hành nhiều chính sách đẩy mạnh triển khai công tác bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa trong nước, có phương án để cung cấp phục vụ các địa bàn trên cả nước trong mọi tình huống của dịch bệnh; đẩy mạnh các hoạt động thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy lưu thông, tiêu thụ hàng hóa.

Trước mắt, cần tập trung kết nối với hệ thống phân phối trong nước để giải phóng một lượng lớn hàng hoá, đặc biệt là nông sản vào vụ thu hoạch, giảm áp lực cho xuất khẩu trong giai đoạn đầu khó khăn. Hầu hết các hệ thống phân phối lớn tại Việt Nam đều tham gia hoạt động kết nối, tiêu thụ hàng hoá cho người nông dân. Bộ Công thương cũng đã làm việc với Hiệp hội Logistics để đề nghị giảm giá dịch vụ từ 15-20% cho hệ thống các siêu thị tham gia chương trình bình ổn thị trường.

Các hệ thống phân phối trong nước như Big C, Lotte, Coopmart… đã làm việc với các nhà cung cấp để tăng lượng bán và mở các đợt bán hàng cao điểm cho các mặt hàng trong hệ thống của mình, chung tay giúp bà con nông dân vượt qua giai đoạn khó khăn. Đơn cử như Big C&Go mở chiến dịch tiêu thụ 1.200 tấn thanh long, 2.000-3.000 tấn dưa hấu trên toàn hệ thống; Saigon Coop phối hợp với các nhà cung cấp, các đơn vị sản xuất tham gia giảm giá để hỗ trợ cho người tiêu dùng 12.000 tấn nông thuỷ sản, trong đó có khoảng 6.000 tấn hỗ trợ tiêu thụ cho nông dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gặp khó đầu ra…

Ở chiều ngược lại, theo các chuyên gia, cũng cần chú trọng tới việc phát triển các nguồn nguyên vật liệu trong nước, tìm và thay thế các nguồn nhập khẩu, phát triển các nguồn nguyên liệu và liên kết sâu với các nhà cung ứng nội địa.

Bên cạnh đó, các DN cần nghiên cứu và phát triển các loại nguyên liệu mới thay thế nhựa, nhiên liệu hoá thạch… bằng các nguyên liệu tự nhiên, năng lượng tái tạo. Hiện tại, xu hướng phát triển các loại nguyên liệu tự nhiên có xen-lu-lô như gạo, sắn, ngô… có thể thay thế một số bao bì nhựa, ống hút… Việt Nam rất sẵn các nguồn nguyên liệu có xen-lu-lô này, nên cần tạo điều kiện cho các DN nghiên cứu và phát triển loại nguyên liệu này. Đối với nguyên liệu xây dựng hoặc dân dụng như cát, đất, gạch… ngày càng cạn kiệt, có thể nghiên cứu các vật liệu xỉ, tro, bụi… thay thế. Các nguyên vật liệu cho ngành dệt may cũng cần có hỗ trợ phát triển thay thế các vật liệu có độ bền hơn hoặc gia tăng tính diệt khuẩn, có thể tăng cường vật liệu nano, vừa giảm trọng lượng vật liệu, vừa giảm tỷ trọng sử dụng.

Vẫn chỉ là giải pháp tình thế

Mặc dù coi thị trường trong nước là kênh cần đẩy mạnh khai thác để giải quyết một phần năng lực sản xuất dư thừa nhằm duy trì sự tồn tại của các DN, song các chuyên gia thương mại lưu ý rằng đây cũng chỉ là giải pháp tình thế.

Bởi lẽ hiện nay các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ… có năng lực sản xuất được đầu tư vượt xa nhu cầu tiêu dùng nội địa, chủ yếu hướng đến thị trường ngoài nước, trong đó đặc biệt là thị trường Mỹ và châu Âu.

Ví dụ với ngành dệt may. Theo một chuyên gia của Bộ Công thương, việc chuyển hướng vào thị trường nội địa gặp nhiều vướng mắc vì đa số DN Việt Nam gia công xuất khẩu cho các thương hiệu nước ngoài, do đó mẫu mã, nguyên liệu sử dụng nhằm đáp ứng thị hiếu của nước ngoài, không phải cho thị trường trong nước. Mặt khác, nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng đang giảm sút do các biện pháp phòng dịch cũng như tâm lý giảm chi tiêu những mặt hàng không thiết yếu. Ngoài ra trong thời gian tới, do các DN Trung Quốc đã hoạt động trở lại, các sản phẩm từ nước này sẽ cạnh tranh rất gay gắt với sản phẩm nội địa, trong đó không loại trừ các hành vi gian lận thương mại, bán phá giá hay nhập lậu hàng hoá của quốc gia này sang Việt Nam.

Tương tự các ngành dệt may và da giày, ngành điện tử Việt Nam dự kiến sẽ bị ảnh hưởng lớn trong các quý tiếp theo của năm 2020 do diễn biến dịch bệnh phức tạp có khả năng làm sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm điện tử tại các thị trường Mỹ và châu Âu. Hiện nay, thị trường Mỹ và châu Âu lần lượt chiếm khoảng 17% và 24% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện thoại và linh kiện; và lần lượt khoảng 17% và 14% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam.

Với ngành sản xuất đồ gỗ, thị trường Hoa Kỳ chiếm 50%, EU chiếm 8% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Theo tính toán của các DN trong ngành này, sau khoảng 3 - 4 tuần tới, hầu hết DN sẽ ngừng hẳn sản xuất theo các đơn hàng xuất khẩu. Một số DN nếu chỉ sản xuất để tiêu thụ nội địa thì sẽ hoạt động rất cầm chừng, khoảng 10-15% công suất nhà máy.

Hiện nay việc chuyển hướng xuất khẩu sang các quốc gia khác gặp nhiều khó khăn vì các thị trường này (Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản…) nhìn chung rất khó có thể bù đắp thiếu hụt từ thị trường Mỹ và châu Âu. Một nguy cơ khác đang hiện hữu là các ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam sẽ đối diện sự cạnh tranh rất lớn từ hàng hoá Trung Quốc ở cả thị trường trong nước và quốc tế, do năng lực sản xuất của nước này rất lớn và cơ bản đã được phục hồi.

Lan Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.190 23.400 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.220 23.400 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.205 23.395 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.260 23.410 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.390 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.370 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.207 23.417 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.200 23.400 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.210 23.390 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.240 23.380 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.600
49.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.550
49.000
Vàng SJC 5c
48.550
49.020
Vàng nhẫn 9999
47.600
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050