Quyết định của Fed sẽ tác động lớn đến các ngân hàng Mỹ

08:19 | 11/03/2022

Nếu cho rằng việc các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu đang nhanh chóng rời khỏi thị trường Nga vì xung đột hiện nay sẽ là một vấn đề lớn đối với các ngân hàng hàng đầu của Mỹ thì có lẽ nhiều người đã nhầm. Thay vào đó, nên theo dõi việc Fed hành động thế nào tới đây để cố gắng biết được điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Fed có thể sẽ hành động mạnh hơn
Fed tăng lãi suất tác động thế nào?
Trụ sở Fed

Theo dữ liệu của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) và Viện Đầu tư Wells Fargo, các ngân hàng lớn của Mỹ có một số hoạt động liên quan đến thị trường Nga nhưng trị giá chỉ khoảng 15 tỷ USD, tức là thấp hơn 0,1% tổng tài sản trong hệ thống ngân hàng Mỹ. Vì vậy, những lo ngại liên quan đến hoạt động cho vay liên quan đến thị trường Nga khó có thể khiến Chủ tịch Fed Jerome Powell tạm dừng việc tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách vào tuần tới. 

Các công ty tài chính và ngân hàng ở châu Âu như: Ý, Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Sỹ, Áo… tiếp xúc với thị trường Nga nhiều hơn Mỹ - và hệ thống ngân hàng của các nước này cũng không lớn như Mỹ, vì vậy rủi ro liên quan đến Nga của họ cao hơn. Đó là một trong những lý do chính khiến cổ phiếu UniCredit của Ý hay Societe Generale của Pháp đã giảm hơn 35% trong tháng qua.

Vì vậy, các nhà đầu tư vào các ngân hàng hàng đầu của Mỹ có thể cảm thấy “dễ thở” hơn khi biết rằng mức độ tiếp xúc với thị trường Nga là thấp và xung đột Nga  - Ukraine không có khả năng làm thay đổi kế hoạch tăng dần lãi suất của Fed. Trong các phiên điều trần trước Quốc hội vào tuần trước, ông Powell đã nói rất rõ việc ủng hộ tăng lãi suất 0,25% tại cuộc họp chính sách tới. Các nhà giao dịch trên thị trường hiện đang định giá gần như 100% khả năng chắc chắn Fed sẽ hành động như vậy và sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong suốt cả năm nay. Và tất nhiên, các ngân hàng Mỹ sẽ “kiếm được” lợi nhuận nhiều hơn từ các khoản vay khi lãi suất tăng.

Những kỳ vọng tăng lãi suất gia tăng như vậy đã giúp lợi suất trái phiếu dài hạn và cổ phiếu của các ngân hàng tăng. Quỹ lựa chọn tài chính theo khu vực (SPDR) đã tăng hơn 4% trong phiên giao dịch hôm thứ Tư. Trong đó JPMorgan Chase, Bank of America, Wells Fargo, Citigroup, Morgan Stanley và Goldman Sachs nằm trong số những cổ phiếu nắm giữ hàng đầu của quỹ này. Trong khi đó, hai quỹ ETF khác đang nắm giữ cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ hơn cũng tăng mạnh trong phiên thứ Tư.

Tuy nhiên, không phải không có những lo ngại đối với các ngân hàng Mỹ. Trong đó, lo ngại lớn nhất hiện nay là nếu giá dầu tăng cao kéo dài sẽ càng tạo ra một kịch bản đình lạm - nền kinh tế tăng trưởng chậm lại do lạm phát tăng cao. Gerald Sparrow, Giám đốc đầu tư của Sparrow Capital Management, cho biết: “Giá năng lượng cao hơn, giá hàng hóa cao hơn sẽ tác động đáng kể tới lạm phát, trong khi triển vọng tăng trưởng kinh tế sẽ chậm hơn khi chi tiêu thấp đi. Những yếu tố này sẽ khiến Fed gặp khó khăn”. Nếu Fed buộc phải tăng lãi suất mạnh mẽ hơn dự kiến để đối phó với lạm phát, điều đó cuối cùng có thể gây tổn hại cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp muốn vay tiền. Nói cách khác, những lợi ích mà các ngân hàng có được từ việc lãi suất cao lại có thể bị xóa nhòa bởi một thực tế khắc nghiệt khác là nhu cầu vay vốn có thể sẽ cạn kiệt.y

 

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850