Quyết tâm hoàn thành các chỉ tiêu năm 2019, tạo dư địa chính sách cho năm tới

20:44 | 05/11/2019

Đó là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2019 diễn ra chiều ngày 5/11.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo tại phiên họp - Ảnh: VGP

Tổ chức quốc tế tiếp tục nhận định lạc quan về kinh tế Việt Nam

Tại buổi họp báo thông tin về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2019, chiều ngày 5/11 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Người phát ngôn của Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, mở đầu phiên họp Chính phủ, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng gửi lời chia buồn sâu sắc tới thân nhân gia đình các nạn nhân trong một số vụ việc thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt là vụ 39 người thiệt mạng tại Anh. Chính phủ cam kết sẽ nỗ lực làm hết sức mình để chia sẻ nỗi đau thương, mất mát to lớn này.

"Đây là vụ việc rất đau lòng, gây bàng hoàng cho người thân, gia đình các nạn nhân cũng như nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế", ông Mai Tiến Dũng nói.

Theo ông Mai Tiến Dũng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương, nhất là Hà Tĩnh, Nghệ An và các ngành chức năng cần phối hợp chặt chẽ để xử lý, trước hết động viên thân nhân ở địa phương bằng các biện pháp thích hợp nhằm bù đắp nỗi đau của gia đình các nạn nhân và hỗ trợ trong khả năng.

Về tình hình kinh tế - xã hội, trong bối cảnh các tổ chức quốc tế đều nhận định, nền kinh tế thế giới đang xuất hiện hiện tượng "4 thấp", đó là tăng trưởng thấp, thương mại - đầu tư thấp, lãi suất thấp và lạm phát thấp, điều này sẽ có thể dẫn đến "trì trệ kéo dài" và sẽ chuyển sang "suy thoái", nhưng các tổ chức quốc tế tiếp tục nhận định lạc quan về phát triển kinh tế của Việt Nam.

Tại phiên họp, các thành viên Chính phủ đều thống nhất đánh giá, tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng tiếp tục xu hướng tích cực, với những điểm nổi bật.

Đó là khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển khá, khẳng định cơ cấu lại ngành nông nghiệp đang phát huy hiệu quả tích cực. Lâm nghiệp phát triển ổn định (sản lượng gỗ khai thác tăng 4,6%); chăn nuôi bò và gia cầm phát triển tốt (đàn bò tăng 2,4%, gia cầm tăng 11,5%).

Lĩnh vực công nghiệp tiếp tục có bước phát triển mạnh, với mức tăng 9,5%; Trong đó, ngành chế biến, chế tạo, sản xuất phân phối điện tăng mạnh (lần lượt tăng là 10,8% và 9,9%). Đặc biệt ngành khai khoáng tăng trưởng trở lại sau nhiều năm tăng trưởng âm (tăng 1,2% cùng kỳ năm trước giảm 2,3%). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ (sắt, thép tăng 42,8%; xăng, dầu tăng 33,2%; tivi tăng 16,4%; điện thoại thông minh tăng 16%).

Thống kê cũng cho thấy, kim ngạch xuất khẩu tăng khá, đạt trên 217 tỷ USD, tăng 7,4%. Khu vực trong nước tăng 16,2%, cao hơn nhiều so với khu vực FDI là 3,9%; tỷ trọng xuất khẩu của khu vực trong nước chiếm 30,7% kim ngạch xuất khẩu. Xuất siêu 7 tỷ USD.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tiếp tục được kiểm soát và giữ ở mức thấp. CPI bình quân 10 tháng năm 2019 tăng 2,48% so với bình quân cùng kỳ; CPI tháng 10/2019 tăng 2,79% so với tháng 12/2018 và tăng 2,24% so với cùng kỳ.

Ảnh: VGP

Không được chủ quan trong 2 tháng cuối năm

Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, tình hình tháng 10 và 10 tháng cũng nổi lên một số vấn đề tồn tại như: Dịch tả lợn châu Phi có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng nông nghiệp trong năm 2019; đồng thời nhiều mặt hàng nông sản giá xuống thấp; xuất khẩu nông sản tăng về sản lượng nhưng kim ngạch xuất khẩu lại giảm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 9,5%, thấp hơn mức tăng 10,3% cùng kỳ năm 2018, động lực tăng trưởng này có dấu hiệu giảm tốc.

Về định hướng những tháng cuối năm, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần không được chủ quan, “tưởng hoàn thành kế hoạch, công bố hết rồi, báo cáo Quốc hội rồi thì không ổn, còn 2 tháng nữa, trách nhiệm rất nặng nề” trong khi cuối năm, có nhiều vấn đề đặt ra trong chỉ đạo, điều hành, mà nếu không quyết tâm tháo gỡ, xử lý kịp thời thì ảnh hưởng rất lớn.

Cần quyết tâm hoàn thành tất cả các chỉ tiêu trong năm 2019, tạo dư địa chính sách cho năm tới.

Về rủi ro từ bên ngoài, Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, tiếp tục theo dõi, bám sát, cập nhật, đánh giá đầy đủ tác động của căng thẳng thương mại, đưa ra các giải pháp, kịch bản kịp thời và phù hợp, trong đó đặt vấn đề mạnh mẽ hơn đối với đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết. Mặt khác, phải tập trung phát triển thị trường trong nước với gần 100 triệu dân.

Bộ Công Thương triển khai kịp thời Đề án tăng cường quản lý Nhà nước về chống gian lận thương mại và gian lận xuất xứ; xử lý nghiêm một số vụ.

Bộ Tài chính làm đầu mối, tiếp tục theo dõi, đánh giá tình hình thị trường chứng khoán, tăng cường theo dõi, đánh giá các dòng vốn đầu tư, nhất là đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán.

Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi, đánh giá, dự báo tác động của thị trường tài chính tiền tệ quốc tế đối với các vấn đề tỷ giá, lãi suất. Tiếp tục kịp thời bảo đảm ổn định thị trường ngoại hối. Tạo điều kiện để chống chọi các cú sốc bên ngoài.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo hiệu quả công tác phòng chống dịch tả lợn châu Phi, vấn đề gỡ thẻ vàng của EC cho thủy sản.

Người đứng đầu Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối, sớm hoàn thiện chiến lược quốc gia về cách mạng công nghiệp 4.0; trình chiến lược thu hút FDI theo Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị.

Đức Nghiêm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 24.584 25.838 26.669 27.782 28016 220,20
BIDV 23.560 23.720 25.003 25.810 26.990 27.534 207,78 215,98
VietinBank 23.538 23.708 24.992 25.827 27.024 27.664 210,59 218,29
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.530 23.700 24.894 25,549 27.052 27.764 210,34 215,88
ACB 23.530 23.700 24.998 25.434 27.233 27.639 211,70 215,39
Sacombank 23.515 23.700 24.976 25.541 27.120 27.635 210,72 217,13
Techcombank 23.540 23.700 24.725 25.691 26.799 27.727 209,95 216,81
LienVietPostBank 23.530 23.710 24.908 25.563 27.092 27.687 210,51 218,88
DongA Bank 23.560 23.700 24.990 25.280 27.080 27.420 207,90 214,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
Vàng SJC 5c
47.100
47.920
Vàng nhẫn 9999
45.200
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.800
45.900