Rủi ro gia tăng, triển vọng tăng trưởng giảm xuống

08:31 | 23/09/2022

Ngân hàng ADB vừa một lần nữa hạ dự báo tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển tại khu vực châu Á và Thái Bình Dương, trong bối cảnh những thách thức ngày càng gia tăng trong đó có chính sách thắt chặt tiền tệ của các NHTW, xung đột tại Ukraine kéo dài cũng như các đợt phong tỏa do COVID-19 tại Trung Quốc.

Theo Báo cáo Cập nhật Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2022, các nền kinh tế đang phát triển tại khu vực châu Á và Thái Bình Dương dự kiến sẽ chỉ tăng trưởng 4,3% trong năm nay (giảm mạnh so với dự báo 5,2% vào tháng 4). Trong năm 2023, dự báo tăng trưởng cũng được hạ từ 5,3% xuống 4,9%, trong khi dự báo lạm phát của khu vực đã được nâng lên. Nếu trừ Trung Quốc ra thì phần còn lại của khu vực châu Á đang phát triển dự kiến sẽ tăng trưởng 5,3% trong năm 2022 và 2023.

rui ro gia tang trien vong tang truong giam xuong
Ảnh minh họa

Chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư trong nước đang dẫn dắt sự tăng trưởng khi các nền kinh tế trong khu vực tiếp tục nới lỏng các hạn chế do dịch bệnh COVID-19. Tuy nhiên, chiến sự tại Ukraine vẫn tiếp diễn đã làm gia tăng bất ổn toàn cầu, làm trầm trọng thêm tình trạng gián đoạn nguồn cung, cũng như làm đảo lộn thị trường năng lượng và thực phẩm. Việc Fed và NHTW Châu Âu (ECB) thắt chặt CSTT một cách quyết liệt hơn cũng đang làm suy giảm nhu cầu toàn cầu và gây xáo trộn thị trường tài chính. Trong khi đó, các đợt bùng phát COVID-19 lẻ tẻ và các đợt phong tỏa mới đã làm cho Trung Quốc - nền kinh tế lớn nhất trong khu vực - tăng trưởng chậm lại.

“Các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á tiếp tục phục hồi, nhưng rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Nền kinh tế thế giới suy giảm đáng kể sẽ làm suy yếu nghiêm trọng nhu cầu, ảnh hưởng đến xuất khẩu của khu vực. Việc các nền kinh tế tiên tiến thắt chặt CSTT mạnh mẽ hơn dự kiến có thể dẫn đến bất ổn tài chính. Ngoài ra, tăng trưởng ở Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức từ tình trạng tái diễn phong tỏa và lĩnh vực bất động sản yếu kém. Chính phủ ở các nước châu Á đang phát triển cần phải tiếp tục cảnh giác trước những rủi ro này và thực hiện các bước cần thiết để kiềm chế lạm phát mà không làm chệch hướng tăng trưởng”, chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, ông Albert Park nhận định.

Các nền kinh tế tiên tiến lớn trên thế giới được dự báo sẽ tăng trưởng 1,9% trong năm 2022 và 1% trong năm 2023, cũng chậm hơn so với dự kiến hồi đầu năm. Lạm phát cao đã thúc giục Mỹ và khu vực đồng Euro thắt chặt CSTT một cách quyết liệt. Điều này khiến cho nhu cầu ở các nền kinh tế này suy yếu, trong khi lại tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn chuỗi cung ứng và bất ổn do chiến sự ở Ukraine.

ADB đã nâng dự báo lạm phát ở các nền kinh tế châu Á đang phát triển trong năm nay từ dự báo trước đó là 3,7% lên 4,5%. Dự báo cho năm tới được nâng từ 3,1% lên 4%. Trong khi lạm phát trong khu vực vẫn thấp hơn các khu vực khác thì sự gián đoạn nguồn cung tiếp tục đẩy giá thực phẩm và nhiên liệu lên cao.

Triển vọng tăng trưởng của Trung Quốc trong năm nay đã bị hạ xuống 3,3% so với mức dự báo 5% vào tháng 4. Đây sẽ là năm đầu tiên trong hơn 3 thập kỷ, các quốc gia còn lại của khu vực châu Á đang phát triển sẽ phát triển nhanh hơn Trung Quốc. Dự báo cho Ấn Độ được điều chỉnh từ 7,5% xuống 7%, do lạm phát cao hơn dự kiến và chính sách thắt chặt tiền tệ.

Nhu cầu trong nước mạnh mẽ ở Indonesia và Philippines đang góp phần cải thiện triển vọng tăng trưởng 5,1% trong năm nay cho khu vực Đông Nam Á, mặc dù triển vọng nhu cầu toàn cầu yếu hơn đã khiến dự báo cho năm tới giảm xuống. Triển vọng cho năm 2022 cũng cải thiện đối với tiểu vùng Caucasus và Trung Á, được dự kiến sẽ tăng trưởng 3,9% trong năm nay và đối với các nền kinh tế ở Thái Bình Dương, được dự kiến sẽ phát triển 4,7% nhờ du lịch tiếp tục phục hồi sau đại dịch.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850