Sản lượng công nghiệp giảm mạnh trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát

08:04 | 02/08/2021

Ngành công nghiệp của Việt Nam đang đối mặt “muôn trùng” khó khăn với sản lượng giảm lớn nhất kể từ tháng 4/2020, thời gian giao hàng kéo dài và chi phí đầu vào tăng mạnh nhất trong hơn một thập kỷ do đại dịch COVID-19 bùng phát, kết quả khảo sát PMI của IHS Markit cho thấy.

PMI - Chỉ số Nhà quản trị mua hàng - ngành sản xuất Việt Nam mặc dù đã tăng từ 44,1 điểm của tháng Sáu lên 45,1 điểm trong tháng Bảy, tuy nhiên số liệu lần này cho thấy các điều kiện kinh doanh của lĩnh vực sản xuất suy giảm đáng kể tháng thứ hai liên tiếp.

Trước đó, Tổng cục Thống kê cho biết chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Bảy chỉ tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong 7 tháng qua (trừ tháng Hai có số ngày làm việc ít nhất).

san luong cong nghiep giam manh trong boi canh dai dich covid 19 bung phat

“Làn sóng đại dịch COVID-19 hiện nay đang ảnh hưởng nghiêm trọng lên các nhà sản xuất Việt Nam”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nói.

Các số liệu thống kê chưa đầy đủ từ các nhà sản xuất đã nêu bật ảnh hưởng của đợt bùng phát COVID-19 hiện nay đối với hoạt động sản xuất. Một số công ty đã buộc phải đóng cửa tạm thời, trong khi các công ty khác phải hoạt động cầm chừng do các biện pháp giãn cách xã hội.

Những ảnh hưởng này, cùng với sự sụt giảm đáng kể số lượng đơn đặt hàng mới, đã làm giảm mạnh sản lượng ngành sản xuất vào tháng đầu quý III. Mức giảm sản lượng chỉ thấp hơn so với mức được ghi nhận sau đợt bùng phát đại dịch COVID-19 vào tháng Ba và tháng Tư năm ngoái.

Cùng với việc giảm tổng số lượng đơn đặt hàng mới, số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài cũng giảm. Tuy nhiên, mức giảm của các đơn hàng xuất khẩu là nhẹ hơn so với tổng số đơn đặt hàng mới khi một số báo cáo cho biết nhu cầu trên thị trường quốc tế cải thiện.

Khối lượng công việc giảm, các trường hợp đóng cửa tạm thời và hạn chế số nhân viên do yêu cầu giãn cách xã hội đã khiến việc làm giảm đáng kể tháng thứ hai liên tiếp.

“Các quy định giãn cách cũng hạn chế số nhân viên được có mặt tại nơi làm việc, từ đó tiếp tục ảnh hưởng đến các dây chuyền sản xuất”, Andrew Harker nói.

Trong khi sự gián đoạn trong hoạt động làm cho lượng công việc tồn đọng tăng tại một số công ty, tình trạng này bị lấn át bởi mức giảm mạnh của số lượng đơn đặt hàng mới. Về tổng thể, lượng công việc chưa thực hiện giảm nhẹ.

Sự gián đoạn nghiêm trọng của chuỗi cung ứng được ghi nhận trong tháng Bảy, với mức độ chậm chễ là đáng kể nhất kể từ khi khảo sát bắt đầu từ hơn một thập kỷ trước. Các thành viên nhóm khảo sát cho rằng nguyên nhân kéo dài thời gian giao hàng là do khó khăn trong khâu vận chuyển cả trong nước và quốc tế vì đại dịch, cũng như tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu.

“Thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài với mức độ còn lớn hơn thời điểm sau đợt bùng phát đại dịch lần đầu năm ngoái và áp lực giá cả tăng”, Andrew Harker so sánh.

Các nhà sản xuất cũng phải đối mặt với tình trạng chi phí đầu vào tăng. Tốc độ tăng chi phí đầu vào đã nhanh hơn thành mức nhanh nhất kể từ tháng Tư. Những người trả lời khảo sát báo cáo chi phí tăng đối với các nguyên vật liệu như sắt, thép, các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc và cước phí vận chuyển.

Trong khi một số công ty chuyển gánh nặng chi phí tăng này cho khách hàng, các công ty khác lại ngần ngại làm việc đó vì tình trạng nhu cầu yếu. Kết quả là, tốc độ tăng giá cả đầu ra chậm hơn nhiều so với chi phí đầu vào, từ đó tạo áp lực lên biên lợi nhuận.

Những lo lắng về ảnh hưởng hiện nay của đại dịch khiến niềm tin kinh doanh trong tháng Bảy vẫn ở mức thấp hơn trung bình của lịch sử chỉ số, mặc dù các công ty nhìn chung vẫn lạc quan về khả năng tăng trưởng sản lượng trong năm tới.

“Lĩnh vực sản xuất có thể vẫn chịu áp lực và khó tăng trưởng cho đến khi đợt bùng phát dịch lần này được kiểm soát, nên điều quan trọng là cần theo dõi số lượng ca nhiễm COVID-19 để cho thấy dấu hiệu cải thiện”, Andrew Harker lưu ý.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000