Sản xuất công nghiệp của Trung Quốc tăng tốc

11:02 | 15/03/2021

Tăng trưởng sản lượng công nghiệp của Trung Quốc tăng tốc trong 2 tháng đầu năm, vượt xa kỳ vọng, khi lĩnh vực sản xuất khởi đầu năm 2021 với những bước đi vững chắc hơn và nền kinh tế tiếp tục phục hồi nhanh chóng.

Doanh số bán lẻ trong giai đoạn nói trên cũng tăng nhờ nhu cầu trong nước cải thiện, tạo lực đẩy mạnh mẽ cho hoạt động kinh doanh vốn cũng được hưởng lợi từ tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ gần đây.

san xuat cong nghiep cua trung quoc tang toc

Cụ thể, sản lượng công nghiệp của Trung Quốc trong hai tháng đầu năm đã tăng 35,1% so cùng kỳ, từ mức tăng 7,3% vào tháng 12 năm ngoái, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho biết sáng nay. Con số này cao hơn dự báo tăng 30,0% tại một cuộc thăm dò ý kiến ​​các nhà phân tích của Reuters.

Khả năng ngăn chặn đại dịch sớm hơn các nền kinh tế lớn khác của Trung Quốc đã cho phép nền kinh tế nước này phục hồi nhanh hơn, được hỗ trợ bởi xuất khẩu mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng trong nước bung ra sau khi bị kìm hãm, và hiệu ứng từ các chính sách kích thích của chính phủ.

Mặc dù những con số ấn tượng nói trên có đóng góp một phần từ sai lệch do hoạt động kinh tế sụt giảm mạnh vào cùng kỳ năm ngoái, do ảnh hưởng của Tết Nguyên đán và lệnh phong tỏa vì đại dịch, thì nó vẫn cho thấy sự phục hồi trên diện rộng bởi sản lượng công nghiệp hai tháng đầu năm nay đã tăng 16,9% so với hai tháng đầu năm 2019 0 thời kỳ trước khi đại dịch xảy ra.

Một quan chức của NBS nhận định rằng các yếu tố đóng góp tích cực cho nền kinh tế Trung Quốc đang tăng lên, nhưng nền tảng cho sự phục hồi vẫn chưa vững chắc.

Nhu cầu từ nước ngoài phục hồi đã thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu trong tháng 2 lên mức kỷ lục, trong khi giá nhập khẩu tại nhà máy tăng mạnh nhất kể từ tháng 11/2018.

Hoạt động kinh tế của Trung Quốc thường biến động do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ trong hai tháng đầu tiên, do đây là kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài một tuần, năm nay rơi vào tháng Hai.

Doanh số bán lẻ hai tháng đầu năm nay cũng tăng 33,8% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 32% theo dự báo của các nhà phân tích, đánh dấu một bước nhảy vọt từ mức tăng trưởng 4,6% trong tháng 12 năm ngoái và sau khi giảm 20,5% trong 2 tháng đầu năm 2020.

Đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp Trung Quốc trong hai tháng đầu năm cũng tăng 35% so với cùng kỳ năm trước, chậm hơn mức tăng 40% dự báo, nhưng cao hơn nhiều mức tăng trưởng 2,9% của năm ngoái hay mức giảm 24,5% trong hai tháng đầu năm 2020. So với hai tháng đầu năm 2019 nó cũng tăng 3,5%.

Đầu tư vào tài sản cố định của khu vực tư nhân, chiếm 60% tổng vốn đầu tư, đã tăng 36,4% trong 2 tháng đầu năm nay, so với mức tăng 1,0% của cả năm 2020.

Trung Quốc đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay khiêm tốn ở mức trên 6%, thấp hơn nhiều so với dự báo của các nhà phân tích là hơn 8%. Đây là nền kinh tế lớn duy nhất trong năm ngoái báo cáo mức tăng trưởng tích cực tới 2,3%.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cho biết trọng tâm của chính sách tăng trưởng trong năm nay là củng cố sự phục hồi kinh tế.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400