Sản xuất công nghiệp tháng 11 của Trung Quốc cải thiện hơn dự kiến

16:01 | 02/12/2019

Một cuộc khảo sát công bố hôm thứ Hai tuần này cho biết hoạt động sản xuất của Trung Quốc đã mở rộng hơn dự kiến ​​trong tháng 11, khi Chỉ số Nhà quản lý mua hàng (PMI) đạt 51,8 điểm.

Caixin và IHS Markit, hai tổ chức đồng thực hiện khảo sát, cho biết trong một thông cáo báo chí chung rằng tốc độ cải thiện PMI trong tháng 11 của Trung Quốc là mạnh nhất kể từ tháng 12/2016.

Trước đó, chỉ số này được dự báo ​​sẽ giảm xuống 51,4 điểm trong tháng 11, thấp hơn mức 51,7 điểm trong tháng 10, theo các nhà kinh tế được thăm dò bởi Reuters.

Công nhân làm đồ chơi xuất khẩu tại một nhà máy ở tỉnh Giang Tô của Trung Quốc

Chỉ số PMI trên 50 điểm thể hiện sự mở rộng của sản xuất công nghiệp, trong khi những mức dưới đó cho thấy sản xuất co lại.

Caixin và IHS Markit cho biết dữ liệu PMI cho thấy một sự cải thiện khiêm tốn hơn về sức khỏe của ngành sản xuất Trung Quốc, được quy cho là do khó tăng sản lượng và mở rộng các hoạt động kinh doanh mới. Việc làm trong lĩnh vực này không có nhiều xáo trộn.

Trước đó, Cơ quan thống kê quốc gia Trung Quốc cho biết hôm thứ Bảy rằng PMI nước này từ 49,3 điểm trong tháng 10 đã tăng lên 50,2 điểm trong tháng 11 - mức cao nhất kể từ tháng 3 năm nay.

Khảo sát chính thức của Cơ quan thống kê quốc gia Trung Quốc về PMI thường thăm dò nhiều hơn các doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp nhà nước. Chỉ số PMI của Caixin và IHS Markit có sự kết hợp với các công ty vừa và nhỏ.

“Sự cải thiện đồng bộ trong dữ liệu khảo sát đã chỉ ra rằng nền sản xuất có một bước tăng trưởng so với tháng trước”, Julian Evans-Pritchard, chuyên gia kinh tế cấp cao về Trung Quốc tại Capital Economics, nói

Dữ liệu PMI của Trung Quốc được đưa ra khi quốc gia này và Mỹ vẫn đang mặc kẹt trong một cuộc tranh chấp thương mại kéo dài, đè nặng lên quan hệ kinh tế giữa hai bên.

Trong tháng 11, “niềm tin của doanh nghiệp vẫn ở mức thấp do những lo ngại về chính sách và điều kiện thị trường. Việc gia nhập thị trường cổ phiếu của họ vẫn còn hạn chế”, Zhengsheng Zhong, giám đốc phân tích kinh tế vĩ mô của CEBM Group - một công ty con của Caixin - cho biết.

“Đây là một rào cản lớn đối với sự phục hồi kinh tế, đòi hỏi sự hỗ trợ của chính sách liên tục”, Zhong nói thêm.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư trên khắp thế giới vẫn đang háo hức chờ đợi việc ký kết một thỏa thuận thương mại kể từ khi ông Trump nói hồi tháng 10 rằng Mỹ đã tiến đến một thỏa thuận giai đoạn một “rất quan trọng” với Trung Quốc.

“Nếu các cuộc đàm phán thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tiến triển trong giai đoạn tiếp theo và niềm tin kinh doanh có thể được cải thiện, thì sản xuất và đầu tư sẽ vực dậy vững chắc”, Zhong nói.

Tuy nhiên, Evans-Pritchard đến từ Capital Economic lại tỏ ra ít lạc quan hơn.

“Với tăng trưởng tín dụng chậm và xây dựng bất động sản vẫn mở rộng ở mức không bền vững, chúng tôi nghi ngại rằng dữ liệu đang báo hiệu đáy của chu kỳ kinh tế hiện nay”, Evans-Pritchard nói hôm thứ Hai tuần này trong một lưu ý.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950