Sản xuất công nghiệp tháng Bảy của Trung Quốc tăng chậm nhất kể từ tháng 2/2020

08:21 | 01/08/2021

Sản xuất công nghiệp tháng Bảy của Trung Quốc tăng chậm nhất trong 17 tháng do chi phí nguyên liệu thô cao hơn, bảo trì thiết bị và thời tiết khắc nghiệt đè nặng lên hoạt động kinh doanh, làm tăng thêm lo ngại về sự suy thoái của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

san xuat cong nghiep thang bay cua trung quoc tang cham nhat ke tu thang 22020

Theo dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS), chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc giảm xuống 50,4 điểm trong tháng Bảy từ mức 50,9 điểm vào tháng Sáu nhưng vẫn cao hơn 50 - điểm phân tách giữa tình trạng thu hẹp và mở rộng của hoạt động sản xuất công nghiệp.

Trước đó, các nhà phân tích dự đoán chỉ số này chỉ giảm nhẹ xuống 50,8 điểm.

Đây là điểm số thấp nhất của PMI lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc kể từ sau khi chỉ số này giảm xuống 35,7 điểm vào tháng 2/2020, do Trung Quốc bắt đầu đóng cửa để kiểm soát đại dịch COVID-19.

Một quan chức của NBS cho biết thêm, chỉ số phụ của PMI về sản lượng sản xuất trong tháng Bảy đã giảm xuống 51,0 điểm từ 51,9 điểm vào tháng Sáu, do bảo trì thiết bị và thời tiết khắc nghiệt. Chỉ số phụ về đơn đặt hàng mới cũng giảm xuống 50,9 điểm, từ 51,5 điểm, phản ánh nhu cầu chậm lại.

“Tín hiệu đáng báo động nhất là chỉ số về đơn đặt hàng xuất khẩu mới đang ở mức thấp nhất kể từ tháng Bảy năm ngoái", Zhiwei Zhang, nhà kinh tế trưởng của Pinpoint Asset Management, lưu ý.

Chỉ số phụ về đơn hàng xuất khẩu mới đã giảm trong ba tháng liên tiếp, bắt đầu từ tháng Năm. Trong tháng Bảy, nó đứng ở mức 47,7 điểm.

Chỉ số phụ về chi phí nguyên vật liệu đứng ở mức 62,9 điểm trong tháng Bảy, cao hơn so với 61,2 điểm của tháng Sáu, cho thấy chi phí tăng. Giá nguyên liệu thô cao đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp và ngăn cản một số nhà nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc đặt hàng.

Các nhà chức trách đang nỗ lực để ngăn chặn việc chuyển mức giá thành cao tại nhà máy đến người tiêu dùng, vì điều này sẽ chỉ gây thêm rủi ro cho nền kinh tế hiện nhu cầu cơ bản vẫn còn yếu.

Bị ảnh hưởng bởi thời tiết khắc nghiệt, chỉ số xây dựng giảm xuống 57,5 điểm từ mức 60,1 điểm của tháng Sáu. Các nhà phân tích cho rằng lĩnh vực này sẽ đối mặt với những khó khăn trong bối cảnh Bắc Kinh đang cố gắng hạ nhiệt thị trường bất động sản.

Để hỗ trợ nền kinh tế đang chậm lại, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) vào giữa tháng Bảy đã bất ngờ hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR), giải phóng khoảng 1 nghìn tỷ nhân dân tệ (154 tỷ USD) thanh khoản dài hạn.

Nền kinh tế Trung Quốc phần lớn đã phục hồi sau những gián đoạn do đại dịch gây ra, với các lĩnh vực tiêu dùng và dịch vụ dần bắt kịp những cải thiện trong xuất khẩu và sản xuất.

Tuy nhiên, các nhà sản xuất vẫn đang phải vật lộn với những thách thức mới, bao gồm giá nguyên liệu thô cao hơn, chi phí hậu cần tăng cao và tắc nghẽn chuỗi cung ứng toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP) của Trung Quốc dự kiến ​​sẽ chỉ ở mức vừa phải.

Nước này cũng đang chạy đua để ngăn chặn đợt bùng phát COVID-19 mới do biến thể Delta dễ lây lan hơn ở phía đông thành phố Nam Kinh. Các nhà phân tích nhận định, cách tiếp cận "không khoan nhượng" của Trung Quốc có thể gây ra những rủi ro đáng kể đối với sự phục hồi kinh tế hiện tại.

Lũ lụt kỷ lục ở miền Trung của Trung Quốc có thể cũng đã đè nặng lên hoạt động kinh doanh trong tháng Bảy, cùng với các động thái của chính phủ nhằm hạn chế sản xuất thép nhằm giảm lượng phát thải.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng lĩnh vực phi sản xuất (PMI) cũng đã giảm xuống 53,3 điểm trong tháng Bảy từ 53,5 điểm vào tháng Sáu, một cuộc khảo sát khác của NBS cho thấy.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000