Sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đều tăng trưởng khả quan

09:27 | 13/12/2019

Thông tin về một số điểm chính liên quan đến hoạt động của ngành công thương, tại buổi họp báo vừa diễn ra chiều 12/12, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cho biết 11 tháng qua, các lĩnh vực trong ngành đều tiếp tục tăng trưởng khá. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu năm 2020 có thể sẽ khó khăn hơn…

Hà Nội “gỡ vướng” cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chủ lực
TP.HCM: Chặn đà suy giảm của 4 ngành công nghiệp trọng điểm
Di dời các cơ sở công nghiệp ra ngoại thành: Quan trọng là nhận thức của doanh nghiệp

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá

Thông tin về một số điểm chính liên quan đến hoạt động của ngành công thương, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành (IIP) duy trì được đà tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP chung của cả nền kinh tế. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11 ước tính giảm 1,6% so với tháng trước, chỉ tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tháng có tốc độ tăng IIP thấp nhất kể từ đầu năm 2019 do sụt giảm của ngành khai khoáng. Trong đó ngành khai khoáng giảm 5,3% (khai thác dầu thô giảm 10,4%); chế biến, chế tạo tăng thấp (6,5%) chủ yếu do sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 46,4% và sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng thấp (2,1%); sản xuất và phân phối điện tăng 7,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%.

“Tính chung 11 tháng năm 2019, IIP ước tính tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10% của cùng kỳ năm 2018. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 0,9% (cùng kỳ năm trước giảm 1,9%); ngành chế biến, chế tạo tăng khá 10,6% (cùng kỳ năm trước tăng 12,1%), ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,5%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%”, Thứ trưởng Hải thông tin và cho biết, trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp. Ví dụ như sản xuất kim loại tăng 31,7%; khai thác quặng kim loại tăng 24,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 24,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 12,1%; khai thác than cứng và than non tăng 11,9%; sản xuất dệt tăng 11,3%; sản xuất đồ uống tăng 10,9%...

Ảnh minh họa

Xuất khẩu cán mốc 500 tỷ USD

Về hoạt động xuất nhập khẩu, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, trước bối cảnh giảm sút trong tổng cầu của nền kinh tế thế giới, hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2019 chúng ta vẫn tăng 7,8%. Điều này cho thấy sự nỗ lực rất lớn của tất cả các cấp, các ngành và đặc biệt là các doanh nghiệp trong việc khai thác thị trường, thúc đẩy xuất khẩu. “Đây thực sự là điểm sáng tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu suy giảm”, ông Hải nói.

Theo số liệu của Bộ Công thương, 11 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu của nước ta đạt 241,7 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2018, đạt chỉ tiêu 7-8% của Quốc hội giao; kim ngạch nhập khẩu đạt 230,7 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2018. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 472 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm. Với tiến độ như hiện nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ vượt mốc 500 tỷ USD vào nửa sau tháng 12 năm 2019.

Xuất khẩu năm 2019 dù gặp nhiều khó khăn nhưng được tạo thuận lợi ở môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ, nhờ sự quyết tâm của Chính phủ và nỗ lực của các bộ, ngành, tạo ra những tiến bộ trong cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, cải cách trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu đã thúc đẩy sản xuất, tạo thêm nguồn hàng cho xuất khẩu.

Trong năm 2019, công tác quản lý điều hành hoạt động xuất nhập khẩu của Bộ Công thương tiếp tục được thực hiện có hiệu quả: Bộ tiếp tục đẩy mạnh mở cửa thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thông qua các hoạt động đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại với 16 FTA đã tham gia đàm phán và ký kết, trong đó có 12 FTA đã ký kết và đi vào hiệu lực. Bên cạnh đó, bộ cũng đã và đang nỗ lực triển khai những công việc cần thiết để thực thi các Hiệp định và hỗ trợ doanh nghiệp khai thác lợi ích của các FTA; triển khai thực hiện Hiệp định CPTPP… Kết quả ban đầu là các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng tốt hơn các cơ hội do các FTA đem lại. Tổng kim ngạch sử dụng C/O ưu đãi chiếm khoảng 38% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường đối tác FTA. Đặc biệt, một số thị trường mới trong CPTPP có mức tăng tốt ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực như sang Canada, Mexico…

Tuy nhiên, nhận định về tình hình hoạt động xuất khẩu thời gian tới, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết có thể sẽ khó khăn hơn khi Hoa Kỳ đang xem xét kế hoạch hành động mà Việt Nam đã gửi cho họ từ ngày 1/11/2019 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa hai nước. Nhưng quan trọng hơn là những yêu cầu về cân bằng lợi ích của cả hai bên.

Đảm bảo nguồn cung thịt lợn dịp cuối năm

Trước lo ngại thiếu hụt nguồn cung thịt lợn dịp cuối năm do tác động của dịch tả lợn châu Phi trong năm 2019, nguy cơ giá thịt tăng cao, ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, lường trước khả năng dịch tả lợn châu Phi sẽ xảy ra tại tất cả các tỉnh, thành, ngay từ đầu, bộ đã phối hợp với các địa phương để cùng đưa ra các giải pháp để khống chế, sau đó đưa ra các biện pháp bình ổn nguồn cung.

“Theo dự báo, từ giờ đến cuối năm 2019, nguồn cung thịt lợn trong nước sẽ thiếu khoảng 200.000 tấn. Bộ Công thương đã có giải pháp bình ổn nguồn cung - cầu mặt hàng thịt lợn và các mặt hàng thiết yếu dịp Tết Nguyên đán. Bộ trưởng Bộ Công thương đã yêu cầu các tổng công ty, tập đoàn lên các phương án, kế hoạch phục vụ thực phẩm dịp cuối năm”, ông Hoàng Anh Tuấn cho biết.

Bộ Công thương cũng yêu cầu các địa phương theo dõi, phân tích và tìm hiểu nhu cầu thịt lợn tại các địa bàn, từ đó cân đối đảm bảo nguồn cung, sau đó sẽ tính đến phương án nhập khẩu thịt lợn để đảm bảo phục vụ nhu cầu mặt hàng này khi tăng mạnh dịp cuối năm.

“Với mục tiêu đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Công thương chỉ cho phép nhập khẩu thịt lợn từ những nguồn hàng đủ độ tin cậy và được kiểm chứng. Bên cạnh đó, bộ cũng khuyến cáo người dân sử dụng các sản phẩm khác thay thế thịt lợn. Vụ Thị trường trong nước hàng ngày cập nhật thông tin, tham mưu với lãnh đạo để đưa ra những biện pháp đảm bảo cung cầu thịt lợn phục vụ đủ cho người dân dịp cuối năm và dịp Tết Nguyên đán”,  đại diện Vụ Thị trường trong nước khẳng định.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 25.667 26.894 28.701 29.729 212,13 222,94
BIDV 23.565 23.725 26.021 26.860 29.028 29.611 213,97 222,40
VietinBank 23.560 23.730 26.026 26.861 28.989 29.629 216,95 224,65
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.550 23.710 25.966 26,569 29.046 29.720 217,43 222,47
ACB 23.550 23.710 26.002 26.403 29.132 29.507 218,48 221,85
Sacombank 23.538 23.720 26.014 29.645 29.126 29.645 217,69 224,07
Techcombank 23.552 23.712 25.746 26.722 28.734 29.680 216,67 223,64
LienVietPostBank 23.500 23.680 25.634 26.628 28.764 29.745 214,87 226,07
DongA Bank 23.570 23.700 25.980 26.410 29.020 29.540 213,50 220,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
48.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
48.300
Vàng SJC 5c
47.100
48.320
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.900
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.700