Sử dụng hiệu quả chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

16:48 | 25/11/2020

Sáng 25/11, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp cùng Liên minh Công bằng Thuế Việt Nam (VATJ) tổ chức Diễn đàn Chính sách tài khóa và phát triển Việt Nam 2020 với chủ đề “Chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội”.

Trao đổi tại Diễn đàn, các chuyên gia cho rằng ngân sách Việt Nam và nhiều nước trên thế giới trong bối cảnh tác động COVID-19 có rất nhiều vấn đề đáng lưu ý.

Với Việt Nam, vấn đề đầu tiên là các nguồn thu bị thu hẹp do suy giảm tăng trưởng và thực hiện các chính sách miễn, giảm thuế hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Vấn đề thứ hai là tăng nguồn chi, với những khoản chi rất mạnh như gói an sinh xã hội, chi thực hiện nhiệm vụ cấp bách vì thiên tai hay chi đầu tư công.

su dung hieu qua chinh sach tai khoa de ho tro tang truong kinh te
Toàn cảnh diễn đàn

Riêng vấn đề nợ công thời gian gần đây đã được cải thiện, nhưng do tác động của dịch COVID-19 đã gây mất cân đối ngân sách, trở thành áp lực mới cho nợ công.

Theo nghiên cứu của ThS. Phạm Văn Long, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược (VESS), thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thu ngân sách Nhà nước (NSNN) với con số trung bình là 78% trong giai đoạn 2006-2019. Tốc độ tăng trưởng của thu NSNN cũng đang có xu hướng chậm lại trong 3 năm gần nhất. Tổng thu ngân sách trên GDP đã giảm trong một thập kỷ trở lại đây. Năm 2016, con số này là 25,7%. Tuy nhiên, theo ThS. Phạm Văn Long, chi phí thu ngân sách vẫn còn tương đối cao so với khu vực.

Trước thực trạng trên, theo TS. Lê Hoài Nam, Vụ Tổng hợp, Kiểm toán Nhà nước, đối với chính sách tài khóa, trong ngắn hạn và dài hạn cần lưu ý một số điểm như: Tiếp tục thực hiện các giải pháp quản lý chặt chẽ nguồn thu; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế đối với thu thuế, phí và lệ phí; cân nhắc thận trọng việc tăng thu từ các nguồn bán tài sản, quyền tài sản; chấp nhận tăng bội chi NSNN và tăng nợ công trong ngắn hạn.

Theo ông Nam, trước mắt, trong năm 2020, Chính phủ nên lựa chọn giải pháp tăng bội chi NSNN từ 4,99% GDP như hiện nay lên tối đa 5,59% GDP để giảm áp lực thu từ tiền bán vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.

Đồng thời, trong bối cảnh hội nhập kinh tế bị hạn chế do dịch bệnh, ông Nam cho rằng đây là thời điểm vàng để Việt Nam tăng cường tiềm lực nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp phụ trợ, máy móc, công nghệ xuất khẩu.

Về chi NSNN, cần có những chính sách giải ngân vốn đầu tư phát triển, đột phá trong ngắn hạn. Thông qua việc tăng cường trách nhiệm người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong xây dựng dự toán và giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào trách nhiệm người đứng đầu trong xây dựng dự toán để tiết kiệm nguồn lực NSNN.

Bên cạnh đó, về lựa chọn chính sách tài khóa, ông Nam khuyến nghị cần tăng bội chi NSNN trong ngắn hạn ở mức cao từ 5-7% GDP. Điều này sẽ góp phần giảm lãi suất vay, tạo cơ hội cho NSNN tái cơ cấu lại các khoản nợ với hạn mức phù hợp và mức lãi suất thấp hơn giai đoạn trước.

Trong dài hạn, Việt Nam sẽ có cơ sở thuận lợi để cổ phần hóa doanh nghiệp, cải cách căn bản nền tài chính công và tạo động lực để bứt phá cho nền kinh tế.

Theo đại diện Vụ Tổng hợp, Kiểm toán Nhà nước, cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam sắp tới nằm ở việc doanh nghiệp Việt có thể chiếm lĩnh thị trường trong nước, mở rộng thị trường, lĩnh vực và ngành nghề xuất khẩu hàng hóa ra các nước. Từ đó, củng cố nội lực của nền kinh tế, tăng tính chủ động trong cung ứng nguyên vật liệu, kiểm soát tốt vật liệu đầu vào, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra để tiến tới tái cơ cấu nền kinh tế.

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.486 28.887 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.960 23.160 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.925 23.168 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.990 23.150 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.970 23.182 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.937 23.162 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.450
Vàng SJC 5c
55.900
56.470
Vàng nhẫn 9999
54.650
55.200
Vàng nữ trang 9999
54.300
55.000