Sức ép của lạm phát và tăng giá

08:44 | 08/07/2020

Chính phủ đã chỉ đạo kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4%. Nhưng sức ép tăng giá và lạm phát vẫn còn lớn; việc điều hành giá và kiểm soát lạm phát khó khăn hơn nhiều những năm trước đây.

Áp lực phức tạp hơn

Mặc dù ở thời điểm này, mọi dự báo đều cho rằng với sự điều hành của Chính phủ và nỗ lực của các bộ ngành lạm phát cả năm sẽ kiềm chế được ở mức 4%. Nhưng sức ép tăng giá và lạm phát vẫn còn khá lớn. PGS.TS.Ngô Trí Long cho rằng áp lực lạm phát trong năm 2020 được dự báo là phức tạp hơn, việc điều hành giá và kiểm soát lạm phát năm nay khó khăn hơn rất nhiều so với những năm trước, để có thể duy trì kiểm soát lạm phát dưới 4% không dễ dàng khi mà bình quân 6 tháng đầu năm CPI tăng 4,19% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2016-2020.

Khó khăn hơn vì sức ép tăng giá và lạm phát vẫn còn đó. Giá cả và lạm phát những tháng cuối năm thường tăng theo quy luật, đặc biệt lại thêm sức ép từ xu hướng tăng của giá dầu thô trên thế giới, sức ép từ dịch bệnh (Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi) vẫn phức tạp, và thiên tai vẫn diễn biến khó lường (hạn hán và xâm nhập mặn ở Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long) có thể làm tăng giá cục bộ một số mặt hàng thiết yếu tại những địa phương bị ảnh hưởng…

suc ep cua lam phat va tang gia 103823
Diễn biến CPI 6 tháng đầu năm 2020

Theo tính toán của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) việc tăng khung trần giá vận chuyển hành khách trên các đường bay nội địa sẽ làm giá dịch vụ hàng không bình quân theo giá trần tăng 4,69% tác động làm CPI chung tăng 0,003%. Học phí tiếp tục tăng trong năm 2020 theo lộ trình sẽ tác động vào CPI chung khoảng 0,35%. Và việc tăng giá sách giáo khoa lớp 1 sẽ làm CPI năm 2020 tăng khoảng 0,02 – 0,04%.

Bên cạnh đó, diễn biến giá thị trường hàng hóa, dịch vụ trong nước phụ thuộc rất mạnh vào diễn biến giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới và vẫn còn phụ thuộc vào diễn biến đại dịch Covid-19 trên thế giới và hậu quả do tác động của dịch Covid-19 đối với kinh tế toàn cầu, ông Phạm Minh Thụy - Viện Kinh tế - Tài chính lưu ý thêm. 

Tránh lạm phát kỳ vọng hay độ trễ của lạm phát

“Áp lực là có nhưng có thể vượt qua, đặc biệt khi các cơ quan điều hành chính sách đều khá thận trọng và chú trọng kiểm soát lạm phát, mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4% là có thể đạt được”, TS. Ngô Trí Long nói.

Đồng quan điểm, các chuyên gia nhấn mạnh: công tác quản lý giá, bình ổn giá cần tiếp tục tăng cường nhằm kiểm soát lạm phát, bảo đảm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, để có thể chủ động điều hành giá cả, kiểm soát lạm phát ở mục tiêu mà Quốc hội đặt ra, mà Chính phủ đã yêu cầu “kiên định”, thì yêu cầu đặt ra cho công tác điều hành giá là kết hợp đồng bộ, hiệu quả, kịp thời các biện pháp vĩ mô, tài khóa, tiền tệ và các công cụ vi mô, điều hành các mặt hàng cụ thể, nhất là xăng dầu, thịt lợn, các mặt hàng thiết yếu như y tế, giáo dục, lương thực, thực phẩm.

TS. Ngô Trí Long nhấn mạnh, điều hành giá phải bám sát và hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng, tránh tạo ra lạm phát kỳ vọng hay tạo ra “độ trễ” của lạm phát trong những năm sau. Đồng thời định hướng điều hành lạm phát là bám sát quy luật cung cầu của thị trường, không áp đặt thủ tục hành chính.

Theo đó các bộ, ngành tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá. Đối với các mặt hàng giá thị trường có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây, như thịt lợn, lương thực, xăng dầu... cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường.

“Để có thể giữ tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng giá bình quân (CPI) ở mức dưới 4% trong năm 2020 như chỉ tiêu của Quốc hội là một mục tiêu cực kỳ khó khăn”,  PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh - Học viện Tài chính phát biểu. Để kiểm soát lạm phát theo đúng mục tiêu đã đề ra, theo TS. Thịnh cần thực hiện tốt chống dịch bệnh để Covid-19 không bùng phát trở lại - đây là tiền đề tốt cho ổn định sản xuất, ổn định thị trường, bình ổn giá cả các mặt hàng. Đồng thời tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, tạo nền tảng cho phục hồi và phát triển bền vững của nền kinh tế.

Cả TS. Thịnh, TS. Long và nhiều chuyên gia khác cùng nhấn mạnh đến công tác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động giá cả, thị trường, nhất là với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, đảm bảo ổn định mặt bằng giá cả. Kiểm tra chặt chẽ các yếu tố hình thành giá đối với các mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá, các mặt hàng hóa, dịch vụ do nhà nước định giá, tránh việc điều chỉnh giá, tăng giá bất hợp lý. Với những mặt hàng có lộ trình tăng giá, cần xác định rõ mức độ, thời điểm thực hiện, tránh trùng các thời điểm có thể gây biến động lớn đến mặt bằng giá cả của nền kinh tế.

“Cả hệ thống chính trị của Việt Nam luôn chủ động, tích cực triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, bình ổn giá cả thị trường, điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát đã đề ra... Vì vậy, có thể đưa ra dự báo CPI của Việt Nam bình quân năm 2020 so với năm 2019 sẽ tăng ở mức 3,5% – 4,0%”, PGS. TS. Nguyễn Bá Minh - Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính phát biểu.

Các kịch bản dự báo CPI cả năm 2020

Ngân hàng Nhà nước dự báo CPI cả năm 2020 trong khoảng 3,7±0,5%.

2 kịch bản dự báo của Tổng cục Thống kê: Kịch bản 1 tăng từ 3,5-3,7% và kịch bản 2 tăng từ 3,8-4,1%.

2 kịch bản điều hành giá của Bộ Tài chính: Kịch bản 1 thì CPI bình quân cả năm 2020 so với năm 2019 tăng khoảng 3,64%. Kịch bản 2 CPI tăng khoảng 3,95%.

Đỗ Lê

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.600
62.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.600
62.200
Vàng SJC 5c
60.600
62.220
Vàng nhẫn 9999
56.250
57.550
Vàng nữ trang 9999
55.850
57.250