Sức khỏe ngân hàng ngày càng tốt hơn

09:26 | 06/02/2020

Bất chấp việc thị trường tài chính toàn cầu biến động liên tục trong năm 2019 theo các cơn nóng – lạnh của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, thị trường tiền tệ trong nước vẫn được duy trì ổn định, các ngân hàng vẫn có một năm kinh doanh khởi sắc; không chỉ tổng tài sản, vốn chủ sở hữu tăng trưởng ấn tượng mà các chỉ số “sức khỏe” của hệ thống cũng tiếp tục được cải thiện.

Cổ phiếu ngân hàng được các chuyên gia nhìn nhận tích cực
Hoạt động ngân hàng dự báo tiếp tục khả quan trong năm 2020, bất chấp tác động của dịch do virus Corona
Ảnh minh họa

Số liệu thống kê của NHNN Việt Nam cho thấy, tính đến cuối tháng 11/2019, tổng tài sản của toàn hệ thống đạt hơn 12,07 triệu tỷ đồng, tăng 9,12% so với cuối năm 2018 (tương đương tăng thêm gần 1,01 triệu tỷ đồng). Đặc biệt vốn tự có của toàn hệ thống tăng tới 13,29% lên gần 913,3 nghìn tỷ đồng; trong đó vốn điều lệ tăng 5,6% lên gần 608,61 nghìn tỷ đồng. Nhờ đó hệ số an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống được nâng lên 12,21% từ mức 12,14% vào cuối năm 2018. Trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn giảm xuống còn 27,15% từ mức 28,41%.

Báo cáo tài chính quý 4/2019 của khá nhiều nhà băng cũng cho thấy tổng tài sản, vốn chủ sở hữu tăng trưởng tích cực. Đặc biệt hiệu quả kinh doanh được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua các chỉ số ROA và ROE. Thế nhưng điều đáng mừng nhất là nợ xấu tại hầu hết các ngân hàng đều giảm, đặc biệt nợ nhóm 5 giảm khá mạnh.

Một trong những điển hình về xử lý và kiểm soát nợ xấu phải nói tới Vietcombank, khi mà nợ xấu của ngân hàng này tiếp tục giảm thêm gần 500 tỷ đồng trong năm qua xuống còn 5.724 tỷ đồng, trong đó nợ nhóm 5 giảm 242 tỷ đồng xuống còn 4.529 tỷ đồng. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank tiếp tục giảm từ mức 0,98% vào cuối năm 2018 xuống còn 0,78% vào cuối năm 2019. 

Thế nhưng ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống lại là ACB. Tại thời điểm cuối năm 2019, nợ xấu của nhà băng chỉ là 1.449 tỷ đồng, giảm 226 tỷ đồng so với cuối năm 2018, trong đó nợ nhóm 5 giảm từ mức 1.164 tỷ đồng về còn 903 tỷ đồng. Trong khi đó tín dụng của ACB tăng khoảng 16,8% trong năm vừa qua, qua đó càng khiến tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh từ mức 0,73% vào cuối năm 2018 xuống còn 0,54% vào cuối năm 2019.

Tương tự, tỷ lệ nợ xấu của VietinBank cũng giảm từ mức 1,58% xuống còn 1,16%; BIDV giảm từ 1,9% xuống còn 1,74%; Techombank giảm từ 1,75% xuống 1,33%; MB giảm từ 1,33% xuống 1,16%...

Theo số liệu của NHNN Việt Nam, ước tính đến cuối tháng 12/2019, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ở mức 1,89%, hoàn thành mục tiêu dưới 2% hồi đầu năm. Nếu tính cả nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ tiềm ẩn thì tỷ lệ nợ xấu chỉ khoảng 4,59% - thấp hơn rất nhiều so với con số báo cáo Quốc hội đầu nhiệm kỳ (hồi năm 2016) là 10,8%. Như vậy mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 5% là đã đạt được và NHNN đang đặt mục tiêu tới đây sẽ đưa tỷ lệ này về dưới 3%.

Có được kết quả này một phần cũng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN Việt Nam cũng như nỗ lực của các ngân hàng, cộng thêm sự hỗ trợ của Nghị quyết 42 của Quốc hội. Theo đó, tính từ năm 2012 đến nay, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 1.064 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 12/2019, toàn hệ thống xử lý được 305,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42, không bao gồm sử dụng dự phòng rủi ro và khoản bán nợ cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt.

Như vậy, trung bình mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 10,5 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 4,9 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình từ 2012-2017 trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.

Đặc biệt hiện đã có 10 ngân hàng tất toán nợ xấu tại VAMC, bao gồm Vietcombank, VIB, TPBank, Nam A Bank, MB, Techcombank, OCB, Kienlongbank, VPBank vàAgribank. Các nhà băng còn lại cũng đang tích cực mua lại nợ xấu đã bán để tự xử lý. 

Tuy nhiên, rủi ro nợ xấu luôn song hành cùng hoạt động tín dụng. Bởi vậy, theo các chuyên gia, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, giải pháp trị nợ xấu tốt nhất vẫn là ngăn ngừa nợ xấu mới phát sinh, muốn vậy việc mở rộng tín dụng phải đi đôi với chất lượng tín dụng. Đó cũng chính là định hướng của NHNN Việt Nam. Tại Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 8/1/2019, Thống đốc NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng “thực hiện các giải pháptăng trưởng tín dụng có hiệu quả đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng”.

Minh Trí

Nguồn:

Tags: ngân hàng

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250