Suy thoái toàn cầu “ép” PMI tháng Mười chỉ còn 50,2 điểm

09:08 | 01/11/2022

Mặc dù các điều kiện kinh doanh trong ngành sản xuất Việt Nam tiếp tục cải thiện vào đầu quý IV nhưng đã có những dấu hiệu cho thấy sự giảm tốc trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm lại, chạm mức yếu nhất trong hơn một năm, từ đó sản lượng, việc làm và hoạt động mua hàng... tăng chậm hơn, theo S&P Global.

suy thoai toan cau ep pmi thang muoi chi con 502 diem

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam của S&P Global - đơn vị chuyên cung cấp những thông tin phân tích - đã giảm từ 52,5 điểm của tháng Chín xuống còn 50,6 điểm trong tháng Mười. Mặc dù chỉ số vẫn nằm trên ngưỡng trung tính (50 điểm) nhưng kết quả lần này là mức thấp nhất trong thời kỳ tăng kéo dài 13 tháng gần đây.

Nhân tố chính góp phần làm tăng trưởng tổng thể chậm lại trong tháng Mười là mức tăng yếu hơn của số lượng đơn đặt hàng mới. Tổng số lượng đơn đặt hàng mới chỉ tăng nhẹ và là mức tăng ít nhất kể từ khi bắt đầu thời kỳ tăng hiện nay vào tháng 10/2021.

"Ở những nơi số lượng đơn đặt hàng mới tăng, nguyên nhân được cho là do nhu cầu tăng do cạnh tranh giá cả và nỗ lực tìm kiếm khách hàng mới. Tuy nhiên, cũng có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu giảm, kể cả nhu cầu hàng xuất khẩu cũng tăng với tốc độ chậm hơn", theo S&P Global.

Các nhà sản xuất tiếp tục gia tăng sản xuất vào đầu quý cuối của năm để đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng. Tuy nhiên, phù hợp với xu hướng số lượng đơn đặt hàng mới và với những dấu hiệu nhu cầu giảm, tốc độ tăng đã chậm lại và là mức thấp của ba tháng. Sản lượng tăng được ghi nhận ở tất cả các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa trung gian và hàng hóa đầu tư cơ bản.

“Dữ liệu chỉ số PMI tháng Mười cho chúng ta thấy những dấu hiệu đầu tiên rằng tình trạng yếu kém của nền kinh tế toàn cầu đang bắt đầu ảnh hưởng đến tăng trưởng của các nhà sản xuất Việt Nam khi cả số lượng đơn đặt hàng mới và xuất khẩu đều tăng với tốc độ yếu nhất trong 13 tháng. Những lo ngại về tình trạng nhu cầu cũng ảnh hưởng đến niềm tin kinh doanh”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, lưu ý.

Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn được phản ánh vào tình trạng tăng yếu hơn của hoạt động mua hàng và việc làm trong tháng Mười. Hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng với mức ít đáng kể nhất trong bảy tháng, trong khi tốc độ tạo việc làm là thấp nhất kể từ tháng Bảy.

Tuy nhiên, số lượng nhân viên vẫn tăng mạnh trong tháng, từ đó góp phần làm giảm lượng công việc tồn đọng khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn đồng nghĩa với việc năng lực sản xuất không phải chịu áp lực.

Tồn kho cả hàng mua và hàng thành phẩm đều giảm trong tháng Mười, từ đó đã đảo ngược xu hướng tăng được ghi nhận trong kỳ khảo sát trước. Mức giảm của hàng tồn kho trước sản xuất trên thực tế là đáng kể nhất trong 16 tháng khi số lượng đơn đặt hàng mới và hoạt động mua hàng tăng chậm hơn, trong khi tồn kho hàng thành phẩm thường giảm do sản xuất tăng chậm hơn.

Tốc độ tăng chi phí đầu vào đã nhanh hơn nhưng vẫn tương đối thấp và chậm hơn nhiều so với thời gian trước đó trong năm. Những người trả lời khảo sát ghi nhận giá cả đầu vào tăng thường cho rằng nguyên nhân là do chi phí dầu, khí đốt, nguyên vật liệu thô và vận tải tăng. Mức tăng giá đầu ra vẫn còn nhẹ và trên thực tế đã giảm nhẹ so với tháng Chín.

Đây là lần thứ ba liên tiếp thời gian giao hàng của nhà cung cấp được rút ngắn thêm một chút trong tháng Mười cho thấy chuỗi cung ứng tiếp tục ổn định sau một thời gian liên tục bị gián đoạn. Hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng chậm hơn đã làm giảm áp lực lên các nhà cung cấp, mặc dù vẫn có những trường hợp chậm giao hàng do khan hiếm nguyên vật liệu và những khó khăn trong khâu vận tải.

Mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới được kỳ vọng cải thiện và đại dịch COVID-19 không còn gây gián đoạn sản xuất giúp các nhà sản xuất vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới, niềm tin kinh doanh đã giảm thành mức thấp của 13 tháng với những lo ngại nhu cầu có dấu hiệu giảm.

“Tuy nhiên, tình trạng sản lượng và việc làm tiếp tục tăng cùng với áp lực với giá cả và nguồn cung đã giảm có thể giúp ngành sản xuất tiếp tục xu hướng tăng trong thời gian cuối năm”, Andrew Harker nhận định.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700