Tác động của đại dịch tới việc làm tiêu cực hơn

09:54 | 29/10/2021

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tổn thất về thời giờ làm việc năm 2021 do đại dịch sẽ cao hơn đáng kể so với số liệu ước tính đưa ra trước đây do quá trình phục hồi của các nước phát triển và các nước đang phát triển đang ở hai tốc độ khác nhau và đe dọa đến nền kinh tế toàn cầu nói chung.

Cụ thể theo báo cáo nhanh số 8 của ILO vừa công bố, dự báo thời giờ làm việc toàn cầu năm 2021 sẽ thấp hơn 4,3% so với mức trước đại dịch (quý IV/2019), tương đương với 125 triệu việc làm toàn thời gian. Đây là mức điều chỉnh đáng kể so với số liệu dự báo mà ILO đưa ra trong tháng 6/2021 khi dự báo chỉ là 3,5%, tương đương với 100 triệu việc làm toàn thời gian. Báo cáo cảnh báo nếu không có những hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cụ thể, sẽ tồn tại sự “phân hóa lớn” trong xu hướng phục hồi việc làm giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.

Trong quý III/2021, tổng thời giờ làm việc ở các nước thu nhập cao chỉ thấp hơn mức của quý IV/2019 là 3,6%. Ngược lại, con số này tại các nước thu nhập thấp là 5,7% và tại các nước thu nhập trung bình thấp hơn lên tới 7,3%. Theo ILO, sự phân hóa lớn này chủ yếu là do những khác biệt lớn trong việc triển khai vaccine và các gói kích thích tài khóa.

tac dong cua dai dich toi viec lam tieu cuc hon
Ảnh minh họa

Số liệu ước tính cho thấy, giả sử với mỗi 14 người được tiêm vaccine đầy đủ trong quý II/2021, thị trường lao động toàn cầu sẽ được bổ sung thêm tương đương một việc làm toàn thời gian. Điều này có tác dụng đáng kể thúc đẩy quá trình phục hồi. Trên toàn cầu, giả sử nếu không có vaccine thì tổng mức tổn thất thời giờ làm việc trong quý II/2021 đã ở mức 6%, thay vì thực tế chỉ là 4,8%. Tuy nhiên, việc triển khai tiêm chủng “rất không đồng đều” giữa các nước đồng nghĩa với việc hiệu quả mang lại (từ vaccine) cho các nước thu nhập cao là lớn nhất, trong khi không đáng kể ở các nước thu nhập trung bình thấp hơn và gần như bằng không ở các nước thu nhập thấp.

Sự mất cân bằng này có thể được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả khi có sự đoàn kết toàn cầu lớn hơn trong vấn đề vaccine. ILO ước tính rằng, nếu các nước thu nhập thấp được tiếp cận vaccine công bằng hơn thì chỉ cần trong hơn một quý, việc phục hồi thời giờ làm việc có thể bắt kịp được với các nền kinh tế giàu có hơn.

Bên cạnh đó, các gói kích thích tài khóa cũng vẫn là một yếu tố then chốt trong quỹ đạo phục hồi. Tuy nhiên, khoảng trống về kích thích tài khóa phần lớn vẫn chưa được giải quyết. Theo đó, 86% các biện pháp kích thích tài khóa trên toàn cầu tập trung ở các nước thu nhập cao. Số liệu ước tính cho thấy trung bình, với 1% GDP hàng năm được bổ sung thêm cho gói kích thích tài khóa, tổng thời giờ làm việc hàng năm tăng thêm 0,3% so với quý IV/2019.

Cuộc khủng hoảng Covid-19 cũng tác động tới năng suất, người lao động và doanh nghiệp theo cách khiến sự chênh lệch lớn hơn. Khoảng cách về năng suất giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển dự báo sẽ tăng từ 17,5:1 lên 18:1 về giá trị thực - là mức cao nhất được ghi nhận kể từ năm 2005.

“Quỹ đạo hiện tại của thị trường lao động là quỹ đạo của một quá trình phục hồi bị đình trệ, cùng với sự xuất hiện của những nguy cơ đi xuống và sự phân hóa lớn giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển”, ông Guy Ryder, Tổng Giám đốc ILO, cho biết. “Sự phân bổ vaccine và năng lực tài khóa không đồng đều đang định hình những xu hướng này và cả hai vấn đó đều cần được khẩn trương giải quyết”.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400