Tài chính và viễn thông sẵn sàng để cạnh tranh

13:05 | 24/10/2019

EVFTA được dự báo sẽ có tác động đáng kể đến tương lai ngành tài chính – viễn thông Việt Nam, bởi đây là những nhóm dịch vụ có nhiều cam kết đáng chú ý trong hiệp định này. Tuy nhiên, các DN trong nước không ngại việc cạnh tranh sòng phẳng với EU. 

Đó là nhận định được đưa ra tại Hội thảo “Ngành tài chính và viễn thông Việt Nam trước cơ hội và thách thức từ Hiệp định EVFTA”, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 23/10.

Ảnh minh họa

Nhiều cơ hội mở ra cho người tiêu dùng

Trong quá trình hội nhập, các ngành tài chính (bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán) và viễn thông đã có sự phát triển ấn tượng cả về quy mô thị trường và năng lực cạnh tranh của các DN. Bên cạnh đó, việc mở cửa và cạnh tranh trên thị trường dịch vụ tài chính, viễn thông đã mở ra nhiều lựa chọn về dịch vụ, với chất lượng cao, chi phí hợp lý hơn cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên, ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI đánh giá, EU là đối tác rất mạnh về tài chính và viễn thông đồng thời cũng có những tiêu chuẩn cao trong quản lý và vận hành các lĩnh vực này. Vì thế các cam kết về quy tắc mở cửa thị trường tài chính và viễn thông Việt Nam cho EU trong EVFTA, cùng với các tác động cộng hưởng của nhiều cam kết khác trong FTA thế hệ mới này chắc chắn sẽ có tác động đáng kể tới thị trường và sự phát triển của các ngành này cũng như rất nhiều các lĩnh vực khác liên quan.

Thông tin chi tiết hơn, bà Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập thuộc VCCI cho biết, trong EVFTA Việt Nam cam kết mở cửa thị trường với các nước thành viên trong nhiều lĩnh vực trong đó có tài chính và viễn thông. Hiện nay chúng ta chưa cam kết cho các ngân hàng nước ngoài được cung cấp qua biên giới bất kỳ dịch vụ ngân hàng nào, ngoại trừ các trường hợp như dịch vụ liên quan đến chuyển thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính; dịch vụ môi giới, tư vấn hoặc dịch vụ tài chính phụ trợ. Trong khi đó, dịch vụ tài chính gốc chưa được thực hiện qua biên giới.

Đối với dịch vụ viễn thông, về dịch vụ mạng riêng ảo không có hạ tầng, Việt Nam chỉ cho phép liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép, trong đó vốn nước ngoài được phép đến 70% (kể từ năm thứ 5 khi EVFTA có hiệu lực, nước ngoài được phép đến 75%). Còn với dịch vụ có hạ tầng thì chỉ cho nước ngoài được phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ được cấp phép với phần vốn trong liên doanh không quá 49%.

Với các dịch vụ viễn thông cơ bản khác, chỉ cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ được cấp phép với số vốn đến 65% (sau 5 năm khi EVFTA có hiệu lực, được phép đến 75%). Nếu có hạ tầng mạng, phía nước ngoài được liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ được cấp phép với phần vốn đến 49%. Với dịch vụ truy cập internet không có hạ tầng mạng, chỉ cho phép liên doanh với số vốn đến 65% (sau 5 năm EVFTA có hiệu lực thì được phép đến 100%).

Còn với dịch vụ internet có hạ tầng mạng, cho phép liên doanh với số vốn đến 50% (sau 5 năm EVFTA có hiệu lực, được phép đến 65%). Với dịch vụ giá trị gia tăng trên internet không có hạ tầng mạng, cho phép hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với số vốn không quá 65% (sau 5 năm EVFTA có hiệu lực, được phép đến 100%). Với dịch vụ giá trị gia tăng có hạ tầng mạng, cho phép hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với mức vốn đến 50% (sau 5 năm EVFTA có hiệu lực, được phép đến 65%).

Môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh hơn

Bình luận về những tác động của EVFTA tới ngành tài chính - viễn thông Việt Nam, bà Trang cho hay, về trực tiếp sẽ không có tác động quá lớn về đầu tư nước ngoài vì đối với ngành tài chính sẽ chỉ mở thêm duy nhất dịch vụ nhượng tái bảo hiểm, còn về mức cam kết thì sẽ không có gì thay đổi.

Còn đối với ngành viễn thông, sẽ không mở thêm lĩnh vực viễn thông nào mới, đồng thời về mức cam kết thì 5 năm đầu không có thay đổi gì lớn. Sau 5 năm, mức độ mở cửa sẽ cao hơn cam kết WTO về mức vốn nước ngoài trong liên doanh và dịch vụ giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng mở cho DN 100% vốn nước ngoài. Với việc mở cửa thị trường như vậy, môi trường kinh doanh sẽ ổn định và dễ dự đoán hơn đối với dịch vụ tài chính, nhất là với các cam kết rõ ràng về ngoại lệ thận trọng, các cam kết liên quan tới các dịch vụ tài chính mới và các cam kết về những vấn đề quan trọng trong cung cấp dịch vụ tài chính.

“Đối với dịch vụ viễn thông thì các cam kết nền về cơ chế quản lý, các ràng buộc chống độc quyền và bảo vệ cạnh tranh sẽ giúp cho thị trường này dần đi vào ổn định và minh bạch hơn nhiều”, bà Trang nhấn mạnh.

Đánh giá một cách toàn diện, theo bà Trang, những cam kết của EVFTA sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 2,18%-3,25% trong giai đoạn từ 2019-2023; tăng từ 4,57%-5,3% trong giai đoạn từ năm 2024-2028 và 7,07-7,72% trong giai đoạn 2020-2033. Về tác động gián tiếp, EVFTA mang sẽ làm gia tăng nhu cầu dịch vụ; giúp cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng ổn định, minh bạch. Cùng với đó, sẽ kéo theo cơ hội đầu tư ra các nền kinh tế thành viên của EU hay cơ hội hợp tác với các đối tác EU trong việc cải thiện chuyên môn, công nghệ, quản trị và năng lực cạnh tranh...

Trong khi đó ông Nguyễn Quý Quyền - đại diện Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ Thông tin và Truyền thông tự tin cho biết, thực tế với dịch vụ viễn thông, các DN trong nước hiện không chỉ giữ vững thị trường mà còn có nội lực rất tốt. Hiện chỉ có duy nhất một liên doanh viễn thông là Vietnam Mobile nhưng thị phần của liên doanh này cũng không lớn. Vì thế, khi EVFTA có hiệu lực thì các NĐT nước ngoài cũng không dễ nhảy vào sân chơi rất khó cạnh tranh này.

Ông Vũ Thế Bình - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội internet Việt Nam cũng lạc quan nhận định, thị trường cung cấp dịch vụ internet ở Việt Nam đang cạnh tranh rất lớn và thay vì hạ giá thành thì các nhà cung cấp mới đây đã tăng băng thông lên gấp đôi cho người sử dụng.

Do đó, NĐT nước ngoài muốn tham gia sân chơi này cũng không hề dễ. Vì vậy theo ông Bình, thách thức thời điểm này và 5 năm tới có lẽ là chất lượng dịch vụ vì chúng ta phát triển nóng nên chất lượng chưa thể so sánh với EU. Đây cũng là yếu tố tạo điều kiện thị trường để các DN nước ngoài tham gia, chính là các dịch vụ giá trị gia tăng trên internet.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950