Tái cơ cấu Trung Quốc: Điều phải đến đã đến

15:30 | 27/04/2012

Kinh tế Trung Quốc đang thay đổi và sự thật là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này phải thay đổi.

Mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ Trung Quốc hiện nay là chuyển hướng nền kinh tế sang một mô hình tăng trưởng cân bằng và bền vững hơn, do việc lệ thuộc quá nhiều vào đầu tư và xuất khẩu đã khiến nước này chịu nhiều sức ép: lạm phát tăng, trong khi sản xuất sụt giảm vì khủng hoảng kinh tế tại châu Âu.

Ảnh: BĐT
Chính sách tiền tệ tại Trung Quốc được nới lỏng hơn để kích thích kinh tế. (Ảnh: BĐT)

Trong quý I/2012 tăng trưởng GDP của Trung Quốc tiếp tục giảm xuống chỉ còn 8,1%, mức thấp nhất trong gần 3 năm. Đây là quý giảm thứ 5 liên tiếp của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này. Điều này khiến một số nhà phân tích lo ngại rằng, kinh tế Trung Quốc vẫn chưa chạm đáy, dù khả năng nền kinh tế này "hạ cánh cứng" (tốc độ tăng trưởng giảm mạnh đột ngột khi nền kinh tế chưa kịp thích ứng) là khó xảy ra.

Trên thực tế, việc kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại đã được dự đoán trước khi Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo hồi tháng 3 vừa qua chính thức thông báo giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2012 xuống 7,5%, cho thấy quyết tâm của nước này trong việc hướng tới mô hình phát triển bền vững hơn, chú trọng chất lượng tăng trưởng thay vì chạy theo tốc độ. Việc Chính phủ Trung Quốc tung ra gói kích thích kinh tế lên tới 585 tỷ USD để đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng của nền kinh tế. Các nhà cải cách nhận thấy rằng môi trường kinh tế hiện tại có thể là thích hợp hơn để thúc đẩy những cải cách về kinh tế vốn bị trì hoãn đã lâu.

Đối với lĩnh vực ngân hàng, mục tiêu cơ bản của những cải cách gần đây là nhằm cải thiện dòng vốn cho các DNNVV. Cuối tháng 3 vừa qua Trung Quốc cũng chấp thuận việc thành lập thị trường điện tử mua bán thẳng nhằm tạo cho các công ty nhỏ một sàn giao dịch nữa để huy động vốn, cũng như cân nhắc tính khả thi của đề án cho các DNNVV phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Những thay đổi đó diễn ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy Chính phủ Trung Quốc đang hướng tới một thị trường hối đoái theo định hướng thị trường hơn. Ngày 14/4, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) tuyên bố từ ngày 16/4/2012, biên độ tỷ giá giữa đồng NDT và đồng USD sẽ được nới rộng từ 0,5% lên 1%, sau lần nới rộng từ 0,3% lên 0,5% hồi tháng 5/2007. Sự điều chỉnh này có thể không đồng nghĩa với việc đồng NDT sẽ mạnh lên một cách nhanh chóng, song báo trước một sự biến động lớn hơn. Đây cũng có thể là bước đi quan trọng khi mà PBoC đang chuẩn bị thiết lập một hệ thống giao dịch cho các nhà đầu tư quốc tế mà trong đó Chính phủ sẽ ít can thiệp vào tỷ giá hối đoái hơn.

Ông Trang Kiện - Chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Phát triển châu Á cho rằng, hiện nay thặng dư thương mại của Trung Quốc ngày càng giảm, thu chi quốc tế đang dần dần tiếp cận mức cân bằng; đồng thời bắt đầu xuất hiện dòng vốn chảy vào và chảy ra, mang lại sự thuận lợi cho việc nới rộng biên độ tỷ giá hối đoái. Các nhà phân tích chỉ rõ việc mở rộng biên độ tỷ giá giữa đồng NDT và đồng USD là phù hợp với tình hình tài chính và kinh tế trong và ngoài nước hiện nay, có lợi cho việc cải cách thị trường hóa tỷ giá hối đoái và ổn định kinh tế vĩ mô của Trung Quốc.

Bên cạnh giải pháp hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM, PBoC cũng sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng và duy trì lượng thanh khoản hợp lý trên thị trường liên ngân hàng để tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế tương đối nhanh và ổn định. Nhà kinh tế trưởng Liao Qun của Citic Bank International (có trụ sở tại Hong Kong) cho rằng, tình hình của nền kinh tế Trung Quốc hiện nay đang cho thấy sự cần thiết của việc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc và có thể là cả việc hạ lãi suất. Tuy nhiên, do tác động của việc hạ lãi suất sẽ lớn hơn so với việc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, việc hạ lãi suất có thể sẽ chỉ  được cân nhắc nếu cần thiết.

Trong lĩnh vực sản xuất - chế tạo, chỉ số quản lý sức mua (PMI) tháng 4 của Trung Quốc theo số liệu của ngân hàng HSBC công bố ngày 23/4 ở mức 49,1 điểm. Tuy con số này vẫn dưới tiêu chuẩn 50 điểm, nhưng đã tăng so với tháng trước là 48,3 điểm sau 5 tháng giảm liên tiếp. Giám đốc điều hành Quỹ quản lý đầu tư HFT Chi Lo, dự báo, chỉ số PMI của Trung Quốc sẽ tiếp tục được cải thiện trong những tháng tới và sớm vượt ngưỡng 50 điểm. Ngoài ra, chi tiêu tiêu dùng đã vượt ngưỡng 76% tăng trưởng trong quý I vừa qua, cao hơn nhiều so với mức trung bình những năm qua, trong khi đầu tư tài sản cố định giảm tương ứng xuống 20,9%, còn tăng trưởng doanh số bán lẻ tăng lên 15,2% trong tháng 3 so với cùng kỳ năm ngoái.

Trên cơ sở những điều chỉnh trong lĩnh vực ngân hàng và hoạt động sản xuất đang dần được phục hồi, nhận định chung của các chuyên gia là nhiều khả năng kinh tế Trung Quốc sẽ "hạ cánh mềm" trong năm nay. Chuyên gia kinh tế David Shairp tại JPMorgan Asset Management nhận định: "Đối với nền kinh tế dựa nhiều vào hoạt động xuất khẩu trong ba thập kỷ qua như Trung Quốc, những điều chỉnh vĩ mô là cần thiết. Đã có những tín hiệu cho thấy sự phục hồi nhu cầu, PMI gia tăng, đồng thời nguồn tín dụng ngân hàng đang được cải thiện. Vì vậy, khả năng dễ xảy ra nhất là kinh tế Trung Quốc sẽ hạ cánh mềm, song vẫn còn đó nguy cơ hạ cánh cứng nếu các điều chỉnh chính sách vĩ mô không được thực hiện một cách triệt để và kiên quyết, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay".

Việt Khoa

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.310 23.610 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.270 23.630 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.270 23.590 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.260 23.750 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.309 23.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.940 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.350 23.640 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.900
67.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.900
67.900
Vàng SJC 5c
66.900
67.920
Vàng nhẫn 9999
54.600
55.600
Vàng nữ trang 9999
54.400
55.200