Tâm lý thị trường dè dặt, VN-Index tiếp tục mất điểm nhẹ

18:13 | 14/09/2021

Thị trường chứng khoán trong nước ngày 14/9 điều chỉnh sang phiên thứ 2 liên tiếp với cùng kịch bản yếu dần về cuối phiên. Dòng tiền ở nhóm VN30 trong xu hướng giảm về mức thấp kể từ đầu năm, trong khi đó nhóm smallcap tiếp tục tìm đỉnh cao mới.

Đóng cửa, chỉ số VN-Index giảm 1,73 điểm (-0,13%) còn 1.339,7 điểm, chỉ số VN30 cũng giảm 6,83 điểm (-0,47%) xuống 1.438,16 điểm.

tam ly thi truong de dat vn index tiep tuc mat diem nhe
Dòng tiền ở nhóm cổ phiếu bluechip suy giảm

Độ rộng thị trường nghiêng về bên bán, toàn thị trường có 168 mã tăng/234 mã giảm, ở rổ VN30 có 7 mã tăng và 18 mã giảm. Trong khi nhóm cổ phiếu midcap giảm 0,8% thì nhóm smallcap tiếp tục tăng và lập đỉnh cao mới với mức tăng 0,83%.

Các cổ phiếu lớn gây áp lực lên thị trường phiên này là: CTG (-2,04%), HPG (-0,98%), VPB (-1,39%), BID (-1,15%), TCB (-0,92%)…, đã lấn át nỗ lực tăng giá ở các cổ phiếu khác như: MSN (+3,75%), SAB (+2,79%), HVN (+6,9%), GVR (+0,8%), BHN (+6,9%)…

Thanh khoản trên sàn HSX giảm còn 18.000 tỷ đồng từ mức 21.672 tỷ đồng ở phiên hôm qua, chủ yếu do giảm thanh khoản ở nhóm VN30.

Giao dịch khối ngoại không thực sự tích cực khi họ tiếp tục bán ròng phiên thứ 12 liên tiếp với giá trị gần 552 tỷ đồng trên toàn thị trường, lực bán tập trung vào HPG (196 tỷ đồng), VCB (169 tỷ đồng), MSN (90 tỷ đồng), STB (84 tỷ đồng)…

Công ty CP Chứng khoán MBS cho rằng, thị trường vẫn dao động đi ngang nhưng phần lớn cổ phiếu bị mất giá, đặc biệt ở nhóm bluechip. Ngược dòng thị trường là nhóm smallcap vẫn đang đi tìm đỉnh cao mới, dòng tiền đầu cơ ở nhóm này vẫn khá sôi động. Về kỹ thuật, ngưỡng 1.350 điểm cũng là mức hồi về mức cản Fibonacci 61,8% nên thị trường có sự thận trọng.

"Thị trường nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động trong xu hướng đi ngang trong vùng 1.330 - 1.350 điểm", đại diện MBS nhận định.

Dưới góc nhìn của mình, Công ty CP Chứng khoán SSI cho biết, thị trường tăng điểm trong hầu hết phiên sáng, tuy nhiên cầu giá không đủ mạnh khiến bên bán gia tăng trở lại ở vùng giá thấp từ nửa cuối phiên chiều. Kế hoạch giãn cách xã hội của TP. Hồ Chí Minh sau ngày 15/9 chưa thay đổi khiến tâm lý nhà đầu tư trên thị trường trở nên dè dặt.

Nhóm vốn hóa lớn và trung bình tiếp tục suy yếu khi chỉ số VN30 và chỉ số VNMidcap giảm tương ứng 0,47% và 0,8%, trong khi đó dòng tiền vẫn trú ẩn ở nhóm cổ phiếu vốn hóa nhỏ giúp chỉ số VNSmallcap tăng 0,83% - phiên tăng thứ tư liên tiếp.

Tính chung, chỉ số VN-Index mất điểm nhẹ 1,73 điểm (-0,13%). CTG, HPG, VPB, BID và TCB là các mã tác động nhiều nhất lên chỉ số theo chiều hướng giảm; trong khi đó MSN tăng mạnh 3,75% là cổ phiếu đóng vai trò nâng đỡ tốt nhất.

VCB là cổ phiếu duy nhất trong nhóm ngân hàng giữ được mức tăng nhẹ, hầu hết các mã còn lại đều giảm tuy nhiên mức giảm không quá lớn chỉ quanh 1-2%. Các cổ phiếu chứng khoán có tốc độ giảm mạnh hơn, từ 2% đến hơn 4%.

Nhóm dầu khí đóng cửa chỉ có GAS và OIL duy trì sắc xanh, còn lại đều mất điểm sau khi tăng tốt trong phiên sáng. Ngược lại, nhóm phân bón vẫn giao dịch khả quan khi hầu hết đều đóng cửa nhẹ trên tham chiếu, riêng với LAS ghi nhận mức tăng lên đến 7,9%.

Nhóm cổ phiếu hưởng lợi khi chính sách giãn cách nới lỏng hơn đã phân hóa trở lại. HVN và SKG vẫn dư mua trần, trong khi VJC và AST mất điểm. Nhóm bán lẻ còn FRT tăng mạnh 4,3%, trong khi MWG và PNJ lùi lại giao dịch ở vùng giá thấp.

Nếu không tính phiên mua ròng nhẹ vào ngày 24/8, khối ngoại đã bán ròng phiên thứ 23 liên tiếp. Giá trị bán ròng trong phiên hôm nay tăng lên 754,6 tỷ đồng. HPG và VCB có giá trị bán ròng cao nhất, tương ứng 195,7 tỷ đồng và 169,4 tỷ đồng bên cạnh một số mã khác như MSN, STB, VHM, NVL. Không có mã nào được mua ròng đáng kể, cao nhất ghi nhận ở VIC với giá trị 51,3 tỷ đồng.

Công ty CP Chứng khoán BSC thì cho biết, xu hướng giao dịch giằng co tiếp tục trong phiên hôm nay với kết quả điều chỉnh nhẹ vào cuối phiên. Dòng tiền đầu tư co cụm vào 1 số ngành nhất định khi chỉ có 6/19 nhóm ngành tăng điểm so với phiên trước. Các ngành hạn chế đà giảm của thị trường là: Du lịch giải trí (Hàng không), thực phẩm và đồ uống, công nghệ thông tin.

Độ rộng thị trường duy trì trạng thái tiêu cực với thanh khoản suy giảm so với phiên trước. Trong khi đó, khối ngoại bán ròng tại sàn HSX và mua ròng tại sàn HNX.

Thanh khoản suy yếu cùng với việc VN-Index vận động trong biên độ hẹp cho thấy các nhà đầu tư đang giao dịch khá thận trọng khi hợp đồng tương lai tháng 9 đáo hạn vào ngày 16/9 và các quỹ ETF cơ cấu lại danh mục.

Quốc Tuấn

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200