Tăng bội chi cần đặt trong chương trình tổng thể phục hồi và phát triển kinh tế

09:50 | 17/10/2021

Gói hỗ trợ kích thích kinh tế của Việt Nam được đánh giá còn thấp so với nhiều nước. Để có thêm nguồn lực phục hồi và phát triển nền kinh tế trong bối cảnh ngân sách còn hạn hẹp và ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, chúng ta tính đến tăng thêm nợ công và sử dụng nguồn lực này thực sự hiệu quả. 

tang boi chi can dat trong chuong trinh tong the phuc hoi va phat trien kinh te
GS. TSKH Nguyễn Quang Thái: Trong điều kiện “bình thường mới” là cần chấp nhận giải pháp khác bình thường
Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với GS. TSKH Nguyễn Quang Thái, Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam xung quanh vấn đề này.

Dư địa tăng nợ công còn nhiều

GS Nguyễn Quang Thái phân tích: Do nhu cầu phát triển, tỷ lệ thâm hụt ngân sách khoảng 4% GDP. Bù đắp thâm hụt này phải vay trong và ngoài nước, làm tăng quy mô nợ công. Trong 10 năm qua, tuy quy mô nợ công tăng dần, nhưng tỷ lệ nợ công/GDP giảm dần và xa dần tỷ lệ trần nợ công theo quy định. Như vậy, dư địa so với trần nợ công vẫn còn nhiều, có thể thu xếp tăng bội chi ngân sách mỗi năm mấy phần trăm GDP trong một vài năm, nhưng nền tài chính và ngân sách nhà nước vẫn được giữ trong giới hạn an toàn.

Từ hai năm nay, đại dịch COVID-19 ảnh hưởng xấu đến phát triển của đất nước. Theo Tổng cục Thống kê, tăng trưởng kinh tế quý III/2021 giảm sâu chưa từng có.

Theo đó, động lực tăng trưởng của nền kinh tế bị suy giảm cả trong ngắn hạn (về phía cầu, tiêu dùng giảm sâu, doanh thu bán lẻ liên tục giảm, khi có nhiều lao động ở một số tỉnh phía Nam về quê) và trong trung, dài hạn (về phía cung, sản xuất công nghiệp, dịch vụ giảm, chỉ số PMI của công nghiệp giảm còn 42%; đầu tư tư nhân tăng chậm; kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang yếu dần, không làm được vai trò “đầu tầu” kinh tế; hạ tầng logistics yếu kém).

GS Nguyễn Quang Thái cho rằng, số tiền trực tiếp chi so với GDP cho an sinh xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp còn có tỷ lệ thấp, và thấp trong so sánh quốc tế. Để đáp ứng nhu cầu này và các nhu cầu phục hồi có thể thi hành giải pháp từ hai hướng.

Một là, tiết kiệm chi tiêu ngân sách, cả về đầu tư cho hiệu quả và giảm chi tiêu thường xuyên còn rất lớn cho bộ máy, trong khi được tài trợ còn quá lớn. Tuy nhiên, sự chuyển biến này không thể nhanh và nhiều ngay được;

Hai là, có thể tăng thêm mức bội chi ngân sách, đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội và khôi phục kinh tế, đổi mới ngành y tế…

Phân tích về liều lượng tăng bội chi ngân sách ở nước ta ở mức nào là hợp lý để vừa có thêm nguồn lực, vừa bảo đảm an toàn ngân sách, GS Nguyễn Quang Thái cho rằng,việc thực hiện tăng bội chi ngân sách một số năm, nhất là 2022-2024 cần đặt trong chương trình tổng thể phục hồi và phát triển kinh tế, nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế, ứng phó thích ứng linh hoạt với các diễn biến phức tạp của dịch bệnh, thiên tai và môi trường quốc tế phức tạp.

Trong điều kiện “bình thường mới” là cần chấp nhận giải pháp khác bình thường, tuân thủ có điều chỉnh ít nhiều như Luật Ngân sách, Luật Quản lý nợ, Luật Quy hoạch... Do đó, Chính phủ cần lên phương án cụ thể và báo cáo Quốc hội để có quyết sách nhanh nhất trong kỳ họp thứ 2 này, từ ngày 20/10/2021.

Tất nhiên, cần công khai, minh bạch để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, với thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá chặt chẽ. Các chính sách mới cần huy động trí tuệ của các nhà khoa học, mọi tầng lớp nhân dân và toàn hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Công khai, minh bạch sẽ chống được khe hở cho các lợi ích nhóm...

“Muốn có kế hoạch tốt thì cần đổi mới tư duy trong quản trị quốc gia”, GS Nguyễn Quang Thái lưu ý.

Kích cầu ngắn hạn, tăng năng lực phía cung

Đề cập đến việc sử dụng tăng thêm bội chi như thế nào là hiệu quả nhất, cho ngành, vùng và lĩnh vực, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh,việc tăng bội chi ngân sách là một thành tố của chương trình tổng thể khôi phục và phát triển kinh tế ba năm 2022-2024, thực hiện kích cầu ngắn hạn, tăng cường năng lực phía cung (trung hạn), tạo đà cho phát triển dài hạn.

Chương trình này cần bao gồm:

Về y tế, xây dựng chương trình tổng thể về phòng chống COVID-19, thúc đẩy mở cửa nền kinh tế. Đặc biệt chú ý nâng cấp toàn diện ngành y tế như mua và sản xuất vaccine, tạo miễn dịch cộng đồng vào cuối năm 2021; tăng cường thuốc chữa bệnh COVID-19 và các bệnh dịch khác; tăng cường trang thiết bị và dụng cụ y tế theo hướng hiện đại hóa; thực hiện y học dân tộc kết hợp y học hiện đại; tăng cường đội ngũ cán bộ y tế vững mạnh,…

Về an sinh xã hội, thi hành toàn diện cả ba thành tố an sinh xã hội là giảm thiểu rủi ro (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp); khắc phục rủi ro (bảo trợ xã hội, giảm nghèo bền vững, chính sách hỗ trợ người có công); phòng ngừa rủi ro trên cơ sở tạo việc làm bền vững, có năng suất cao, phục hồi và phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế đất nước.

Về phía cầu, thực hiện chương trình kích cầu như tiêu dùng nội địa, du lịch, xuất nhập khẩu hiệu quả.

Về phía cung, phục hồi kinh tế, đẩy mạnh đầu tư phát triển; chú trọng phát triển doanh nghiệp gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng lực nội tại và tự chủ của nền kinh tế, bao gồm các chính sách về tín dụng, tài chính, gắn kết chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo… Khơi thông nguồn lực đầu tư công hiệu quả; thu hút FDI có chọn lọc, đẩy mạnh đầu tư khu vực tư nhân đa dạng. Chú trọng các ngành có chỉ số lan tỏa cao đến giá trị tăng thêm, lan tỏa thấp đến bảo vệ môi trường, giảm nhập khẩu như nhóm ngành nông lâm thủy sản, công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ. Bình đẳng giữa doanh nghiệp nội và doanh nghiệp FDI.

“Việc đẩy mạnh đầu tư vào ngành nào, lĩnh vực nào phải được lựa chọn kỹ, chắt chiu từng cơ hội đang mở ra, thực hiện cải cách mạnh mẽ. Xây dựng các địa bàn có thể phát triển mạnh như các đầu tầu kinh tế, vùng kinh tế ven biển, các khu kinh tế gắn kết với hội nhập trong các FTA mà Việt Nam đã ký kết”, GS Nguyễn Quang Thái lưu ý.

Đồng thời, trong chương trình trung hạn ba năm 2022-2024, việc lựa chọn dự án, công trình hay hoạt động nào cần căn cứ vào kế hoạch phục hồi sau đại dịch được Quốc hội phê chuẩn một cách chủ động, có sự giám sát chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc các cấp và của cả xã hội. Thưởng phạt nghiêm minh, lựa chọn phương án tốt, người tài giỏi để chỉ huy kế hoạch phục hồi và chấn hưng nền kinh tế. Ai làm kém, làm sai phải đưa ra khỏi guồng máy, thậm chí bị xử lý phạt ngay, không có vùng cấm.

Nguồn: VGP News

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.545 22.775 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.575 22.775 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.775 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.570 22.770 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.580 22.760 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.580 22.760 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.576 22.788 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.543 22.773 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.580 22.760 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.600 22.760 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.550
60.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.550
60.120
Vàng SJC 5c
59.550
60.270
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.250
Vàng nữ trang 9999
51.250
51.950