Tăng lương tối thiểu vùng: Bài toán hóc búa cho DN

09:21 | 18/07/2019

Tiền lương tăng kéo theo nỗi lo về chi phí tăng cao và thêm thách thức

Sau khi Hội đồng Tiền lương Quốc gia chốt phương án lương tối thiểu vùng năm 2020 tăng lên 5,5% so với năm 2019, với mức lương tối thiểu mỗi tháng ở vùng 1 sẽ tăng từ 4,18 lên 4,42 triệu đồng (tăng 240.000 đồng); vùng 2 tăng từ 3,71 lên 3,92 triệu đồng (tăng 210.000 đồng); vùng 3 tăng từ 3,25 lên 3,43 triệu đồng (tăng 180.000 đồng); vùng 4 tăng từ 2,92 lên 3,07 triệu đồng (tăng 150.000 đồng). Nhiều ý kiến chuyên gia nhận định rằng, mức tăng tối thiểu này đã gần đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động, song đối với các DN sản xuất kinh doanh, nhất là những DN sử dụng nhiều nhân công trong lĩnh vực dệt may, da giày, xây dựng... thì sẽ là bài toán khá hóc búa, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh hội nhập quốc tế hiện nay.

Tăng lương để kích thích năng suất và chất lượng lao động, nhưng phải được kiểm soát tốt

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2019, số DN thành lập mới và quay lại hoạt động là 88.600 DN, trong khi đó số DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và tạm ngừng hoạt động chờ hoàn thành thủ tục giải thể là 42.900. Điều đáng quan ngại hơn là báo cáo từ Tổng cục Thuế cho thấy, hiện chỉ có khoảng gần 39% DN có phát sinh doanh thu. Như vậy, cũng đồng nghĩa với việc có đến hơn 60% DN kinh doanh cầm chừng hoặc không có lãi.

Trên thực tế, DN Việt có đến 97% là DNNVV, trong đó chỉ có 21% DN tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, năng suất của khu vực DNNVV còn thấp, lại có xu hướng suy giảm liên tục do hạn chế về công nghệ, nguồn vốn, trình độ quản lý cũng như nguồn nhân lực thường yếu cả về lượng lẫn về chất. Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, việc tăng lương đối với người lao động để duy trì nguồn nhân lực và kích thích tăng năng suất là vấn đề các DN luôn quan tâm, nhưng tăng như thế nào cho phù hợp lại luôn là vấn đề nan giải, bởi hoạt động của các DN còn liên quan đến hàng loạt các chi phí khác như các loại phí bảo hiểm, công đoàn...

Giám đốc một DN chế biến xuất khẩu thủy sản tại quận 4, TP. HCM có hàng nghìn lao động cho biết, tác động của việc tăng lương đối với DN là rất lớn. Trên thực tế, mức lương hiện tại mà DN chi trả cho công nhân để người lao động có thể yên tâm gắn bó với công việc và tái tạo sức lao động đã cao hơn mức lương tối thiểu rất nhiều. Nên đối với DN này, vấn đề là năng suất có đồng bộ với tiền lương hay không mà thôi.

“Theo quy định của Bảo hiểm xã hội (BHXH), mức lương căn cứ để đóng bảo hiểm hàng tháng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh đơn giản nhất trong điều kiện bình thường. Riêng đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua đào tạo, học nghề thì mức lương tháng đóng BHXH cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Như vậy có thể làm một phép tính đơn giản như sau: tại vùng 1, nếu như năm 2019, DN phải chi trả cho một người lao động chưa qua đào tạo là 4.180.000 đồng/tháng và người đã qua đào tạo (cộng ít nhất 7%) sẽ là 4.472.000 đồng/tháng. Bước qua năm 2020, với mức tăng lương tối thiểu 5,5% sẽ tăng lên là 4.420.000 đồng/tháng với người chưa qua đào tạo và 4.729.000 với người đã qua đào tạo. Như vậy, đối với những DN sử dụng hàng ngàn lao động thì con số này sẽ rất lớn!”, vị giám đốc này phân tích thêm.

Nhiều Hiệp hội ngành nghề cũng đưa ra quan điểm, với xu hướng như hiện nay, thời gian tới rất nhiều DN trong những ngành nghề thâm dụng nhiều lao động sẽ chuyển sang đầu tư máy móc, dây chuyền công nghệ để dần dần cắt giảm bớt nhân công. Bởi, mức tăng trưởng của DN theo không kịp các chi phí.

Bàn về vấn đề này, một số chuyên gia cho rằng, bản chất của việc tăng lương là để kích thích tăng năng suất và chất lượng lao động, nhưng nếu không kiểm soát những vấn đề khác như chi phí phát sinh theo lương, giá sinh hoạt phí gia tăng theo kiểu “té nước theo mưa”... thì việc tăng lương sẽ vô hình trung trở thành gánh nặng cho người lao động, DN và cản trở kinh tế phát triển.

Tuyết Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530