Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ chậm lại đáng kể

07:16 | 24/12/2021

Trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phải đối mặt với những “cơn gió ngược” từ biến thể Omicron cũng như suy giảm nghiêm trọng của lĩnh vực bất động sản, WB trong báo cáo mới nhất đã cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong năm nay và năm tới.

Thêm các rủi ro gián đoạn đến hoạt động kinh tế

Trong báo cáo mới nhất về kinh tế Trung Quốc hôm thứ Tư, WB nhận định các rủi ro suy giảm đối với triển vọng kinh tế đã tăng lên. Theo đó, các đợt bùng phát Covid trong nước gia tăng, bao gồm cả biến thể Omicron, có thể dẫn đến các quy định hạn chế "trên diện rộng và lâu dài hơn" và gây ra những gián đoạn lớn hơn nữa cho các hoạt động kinh tế. Bên cạnh đó, một sự suy giảm nghiêm trọng và kéo dài trong lĩnh vực bất động sản vốn đã có đòn bẩy tài chính cao cũng có thể gây ra những ảnh hưởng đáng kể.

Trước những rủi ro gia tăng này, WB dự báo GDP của Trung Quốc sẽ tăng 8% năm 2021 - thấp hơn so với các dự báo trước đó của họ. Vào tháng 10/2021, WB dự báo kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 8,1% trong năm nay, điều chỉnh từ mức dự báo 8,5% đưa ra vào tháng 6/2021. Đồng thời, WB cũng điều chỉnh giảm dự báo cho năm 2022, từ mức 5,4% (đưa ra vào tháng 10 vừa qua) xuống 5,1%. Mức tăng trưởng này nếu xảy ra trên thực tế sẽ đánh dấu tốc độ tăng trưởng GDP thấp lần thứ hai của Trung Quốc kể từ năm 1990 - năm ghi nhận mức tăng 3,9%. Trước đó vào năm 2020, kinh tế Trung Quốc chỉ tăng trưởng 2,2%.

tang truong kinh te cua trung quoc se cham lai dang ke
Triển vọng kinh tế Trung Quốc kém khả quan hơn trong năm 2022

Dù tăng trưởng năm 2021 có thể giảm nhẹ một chút so với kỳ vọng nhưng vẫn là mức khá cao. Tuy nhiên, gắn liền với tăng trưởng ấy là rất nhiều thách thức và khó khăn đi kèm, như việc tiếp tục phải duy trì quy định hạn chế liên quan dịch bệnh, cuộc khủng hoảng năng lượng hay việc siết chặt quản lý với các mô hình kinh doanh của các công ty tư nhân trong lĩnh vực công nghệ, giáo dục tạo áp lực cho việc làm trong bối cảnh các ngành này đang nỗ lực phục hồi sau đại dịch. Đặc biệt với lĩnh vực bất động sản, các quy định bổ sung đối với các DN bất động sản (việc siết chặt bắt đầu từ năm ngoái) đã làm tăng thêm nỗi đau cho các chủ đầu tư lớn - những người vốn đã gánh rất nhiều nợ. Thị trường bất động sản chiếm tới gần 1/3 GDP của Trung Quốc, nhưng đang trong đà lao dốc ngày càng nghiêm trọng, với một số “tay chơi lớn” thậm chí đang trên bờ vực sụp đổ.

Ưu tiên ổn định và tăng trưởng hợp lý

Những khó khăn, rủi ro suy giảm kinh tế ngày càng gia tăng khiến Bắc Kinh phải xem xét lại cách tiếp cận chính sách của mình. Tại Hội nghị Kinh tế Trung ương hôm 10/12, các lãnh đạo Trung Quốc đã nhấn mạnh đảm bảo ổn định, giữ tốc độ tăng trưởng ở mức “hợp lý” là ưu tiên hàng đầu trong năm 2022. Đây có thể xem là một sự thay đổi lớn so với hội nghị tương tự vào năm ngoái, khi ưu tiên thời điểm đó là kiềm chế, xử lý vấn đề nợ và các hành vi mang tính đầu cơ gây bất ổn.

Các nhà chức trách kể từ đó đã tăng cường nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế. NHTW Trung Quốc (PBoC) hôm thứ Hai vừa qua đã cắt giảm lãi suất chính lần đầu tiên trong vòng 20 tháng, với hy vọng giảm chi phí đi vay cho các hộ gia đình và DN, đồng thời khuyến khích chi tiêu và đầu tư của người tiêu dùng. Trước đó, PBoC cũng đã quyết định hạ 0,5% tỷ lệ dự trữ bắt buộc (có hiệu lực từ 15/12) đối với hầu hết các ngân hàng. Với quyết định này, dự kiến sẽ có khoảng 1.200 tỷ Nhân dân tệ - tương đương 188,3 tỷ USD - được bơm vào nền kinh tế, qua đó tăng thêm thanh khoản dài hạn.

Những dấu hiệu đó cho thấy các nhà chức trách Trung Quốc đã sẵn sàng nới lỏng chính sách tài khóa và cung cấp thanh khoản để ngăn chặn rủi ro lây lan từ các nhà phát triển bất động sản đang gặp khó khăn, đồng thời tái hiện chính sách truyền thống của Trung Quốc là thúc đẩy tăng trưởng thông qua đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển bất động sản. Tuy nhiên theo WB, “để đạt được tăng trưởng có chất lượng trong trung hạn, Trung Quốc cần tái cân bằng nền kinh tế của mình trên nhiều khía cạnh”.

Trong đó bao gồm những nỗ lực để đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế dựa nhiều hơn vào tiêu dùng và dịch vụ; cải cách tài khóa để tạo ra một hệ thống thuế tiến bộ hơn và tăng cường mạng lưới an toàn xã hội; để cho thị trường và khu vực tư nhân đóng vai trò lớn hơn; chuyển đổi từ nền kinh tế carbon cao sang carbon thấp thông qua khuyến khích sử dụng rộng rãi hơn việc định giá carbon và thúc đẩy sự phát triển của các công cụ tài chính xanh. "Giải quyết những méo mó trong các thị trường và mở rộng hơn nữa lĩnh vực dịch vụ được bảo hộ sẽ không chỉ hỗ trợ sự chuyển dịch sang tăng trưởng do khu vực tư nhân dẫn dắt mà còn khuyến khích tái cân bằng hướng tới các dịch vụ giá trị cao hơn", Ibrahim Chowdhury, quyền kinh tế trưởng của WB tại Trung Quốc nhận định.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750