Tăng trưởng kinh tế khu vực ASEAN: Đối mặt với nhiều thách thức

09:14 | 08/05/2019

Mặc dù triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn có giảm nhẹ, các yếu tố cơ bản dài hạn của khu vực vẫn ổn định do tiêu dùng mạnh mẽ và thương mại nội khối phát triển nhanh trong bối cảnh tầng lớp trung lưu đang gia tăng, đô thị hóa nhanh chóng và ứng dụng công nghệ kỹ thuật số.

Giới chuyên gia giảm mạnh dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ
Trung Quốc hạ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm 2019
IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019

Thách thức trong ngắn hạn

Theo báo cáo mới nhất vừa được Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) công bố, tăng trưởng kinh tế các nước khu vực ASEAN+3 (bao gồm 10 nước Đông Nam Á và Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) dự kiến chững lại trong ngắn hạn, song vẫn duy trì ở mức ổn định trong dài hạn bất chấp việc phải đối mặt với rủi ro căng thẳng thương mại toàn cầu leo thang và các bất ổn bên ngoài khác.

Báo cáo Triển vọng Kinh tế ASEAN+3 năm 2019 dẫn lời các chuyên gia nhận định, tăng trưởng khu vực dự báo giảm nhẹ từ mức 5,3% của năm ngoái xuống 5,1% vào năm 2019 và 5,0% vào năm 2020 do sự tác động từ leo thang căng thẳng thương mại, tăng trưởng toàn cầu suy giảm và các cú sốc tài chính khác. Trong đó, tăng trưởng cho riêng khu vực ASEAN sẽ duy trì ở mức 5,1% cho năm 2019 và tăng nhẹ lên mức 5,2% vào năm 2020.

Nguồn: Báo cáo của AMRO

Cùng với dự báo tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát toàn phần của cả khối ASEAN+3 cũng được AMRO ước tính từ mức 2% của năm 2018 sẽ tăng lên 2,1% năm nay và vào năm 2020 sẽ giảm về mức 1,9%.

AMRO cũng nhận định rằng rủi ro từ chủ nghĩa bảo hộ thương mại sẽ chuyển dịch đến khu vực ASEAN chủ yếu thông qua kênh xuất khẩu và kênh chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs), ảnh hưởng này có thể bị khuếch đại do tác động từ tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế toàn cầu. Theo đó các nền kinh tế trong khu vực có kim ngạch xuất khẩu trực tiếp lớn sang thị trường Trung Quốc cũng như xuất khẩu gián tiếp thông qua chuỗi giá trị toàn cầu đều bị ảnh hưởng mạnh hơn trong ngắn hạn.

Ở kịch bản tiêu cực, theo nhận định của tổ chức này, nếu các biện pháp trả đũa leo thang trong căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc, có thể làm tăng trưởng kinh tế của khu vực suy giảm 0,4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Trong tình huống cả hai nền kinh tế lớn áp mức thuế 25% lên toàn bộ hàng hóa nhập khẩu giữa hai quốc gia thì mức ảnh hưởng lên tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia trong ASEAN sẽ lớn hơn về mặt tuyệt đối, lên mức khoảng -1 điểm phần trăm.

Ổn định trong dài hạn

Mặc dù triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn có giảm nhẹ, các yếu tố cơ bản dài hạn của khu vực vẫn ổn định do tiêu dùng mạnh mẽ và thương mại nội khối phát triển nhanh trong bối cảnh tầng lớp trung lưu đang gia tăng, đô thị hóa nhanh chóng và ứng dụng công nghệ kỹ thuật số.

Cũng theo báo cáo, ba động lực chính sẽ định hình các ưu tiên về năng lực và kết nối trong khu vực trong trung và dài hạn bao gồm: Những nhu cầu mới phát sinh từ quá trình chuyển đổi toàn cầu sang CMCN lần thứ tư hay rộng hơn là nền kinh tế mới; dân số trưởng thành, ngày càng giàu có của khu vực Đông Á cùng tầng lớp trung lưu ngày càng gia tăng; áp lực giữa gia tăng nhu cầu nội khối và rủi ro bắt nguồn từ xu hướng bảo hộ trong thương mại và công nghệ.

Bên cạnh đó, triển vọng kinh tế khu vực cũng phải đối mặt với ba thách thức chính. Trước hết, nhu cầu tài trợ cho thấy sự thiếu hụt giữa tiết kiệm thấp trong nước và nhu cầu đầu tư lớn của các nền kinh tế có thu nhập thấp. Thứ hai, chênh lệch ngoại hối xảy ra khi các nền kinh tế mới nổi có nhu cầu tích lũy dự trữ ngoại hối để giảm thiểu rủi ro liên quan khi nguồn vốn đột ngột bị rút khỏi nền kinh tế. Thách thức thứ ba liên quan đến các hạn chế phi tài chính, bao gồm nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, chuyên môn, năng lực công nghệ và thể chế.

Để vượt qua những thách thức nêu trên, các nhà phân tích cho rằng các nền kinh tế ASEAN+3 cần tận dụng đầu tư và tiết kiệm nội khối; củng cố mạng lưới an toàn tài chính khu vực, bao gồm Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (CMIM); phát triển năng lực công nghệ, chuyên môn trong các lĩnh vực khác nhau và tăng cường thể chế.

Ngoài ra, khi các yếu tố bất lợi trở nên rõ rệt hơn, các nhà hoạch định chính sách cần phải cẩn trọng và linh hoạt hơn, sẵn sàng điều chỉnh chính sách để bảo đảm tăng trưởng đồng thời duy trì ổn định tài chính.

Trong bối cảnh đó, các nhà hoạch định chính sách trong khu vực cần sẵn sàng sử dụng khoảng không chính sách sẵn có để nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa, qua đó hạn chế rủi ro và hỗ trợ nền kinh tế nếu diễn biến bên ngoài trở nên bất lợi.

Điều này có thể bao gồm việc nới lỏng chính sách tiền tệ khi phù hợp; duy trì chính sách tài khóa hỗ trợ, kết hợp các biện pháp tài khóa có mục tiêu với cải cách cơ cấu; duy trì chính sách vĩ mô cẩn trọng để giảm thiểu rủi ro tài chính.

Theo tiến sĩ Hoe Ee Khor, chuyên gia kinh tế của AMRO, để hỗ trợ triển vọng tăng trưởng của khu vực và tăng cường khả năng phục hồi, các nước ASEAN+3 cần ưu tiên thực thi các chính sách dài hạn, đặc biệt là các chính sách tập trung vào tăng cường năng lực và kết nối để thúc đẩy Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và duy trì tăng trưởng trong nền kinh tế mới.

Chuyển đổi sang nền kinh tế mới tập trung vào công nghệ và dịch vụ có thể làm gia tăng nhu cầu về vốn đối với khu vực và điều bắt buộc là các nền kinh tế đang phát triển đầu tư vào nguồn nhân lực và tận dụng các nguồn vốn bổ sung trong khu vực.

Do đó, điều quan trọng hơn bao giờ hết đối với khu vực ASEAN+3 là nắm bắt công nghệ, tăng cường hội nhập, củng cố mạng lưới an toàn tài chính khu vực, ông Hoe Ee Khor nhấn mạnh.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530