Tạo sức lan tỏa cho cộng đồng

11:00 | 05/07/2019

Sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP. Hà Nội thuộc các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên, nền tảng, có tính lan tỏa mạnh đến kinh tế thành phố, có giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Trong những năm qua, ngành công nghiệp Hà Nội đã có sự tăng trưởng khá, đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của thành phố. Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Doãn Toản cho biết, 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, tăng trưởng đạt cao hơn cùng kỳ. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) TP. Hà Nội 6 tháng đầu năm 2019 ước tính tăng 7,21% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,15% của 6 tháng đầu năm 2018. Một số ngành, lĩnh vực tăng cao hơn cùng kỳ, trong đó ngành công nghiệp đang được thành phố quan tâm, nhất là thúc đẩy sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội.

Tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp của Hà Nội khá cao

Trong 6 tháng đầu năm 2019, giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 8,38% so với cùng kỳ năm trước (6 tháng năm 2018 tăng 7,88%), đóng góp 2,24 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm trên địa bàn Hà Nội. Trong đó ngành công nghiệp tăng 7,71%, đóng góp 1,51 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm.

Trong 6 tháng đầu năm nay, các ngành công nghiệp chủ lực tiếp tục tăng trưởng do các DN đã chủ động mở rộng thị trường, đầu tư đổi mới thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh. Nhiều DN đã nhanh chóng ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại trong các lĩnh vực công nghệ cao vào sản xuất tạo ra các sản phẩm bảo đảm chất lượng được thị trường tiêu thụ ổn định. Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo quy hoạch, phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực và công nghiệp hỗ trợ; đã ban hành Quyết định thành lập 8 cụm công nghiệp và hoàn thành thẩm định 17 cụm công nghiệp.

Có thể thấy, sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP. Hà Nội là thuộc các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên, nền tảng, có tính lan tỏa mạnh đến kinh tế thành phố, có giá trị gia tăng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Ông Đàm Tiến Thắng, Phó giám đốc Sở Công thương Hà Nội cho biết, trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, sự đóng góp của các DN có sản phẩm công nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng. Hà Nội sẽ công nhận khoảng 70 sản phẩm công nghiệp chủ lực trong năm 2019, đồng thời tăng cường quảng bá thương hiệu và tích cực hỗ trợ DN có sản phẩm được công nhận nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm này trên thị trường. Trước mắt, thành phố đẩy nhanh tiến độ triển khai, đầu tư xây dựng, hoàn thành và thu hút các dự án đầu tư xây dựng lấp đầy khu, cụm công nghiệp và tổ chức vận động, hướng dẫn, hỗ trợ DN đăng ký, lập hồ sơ tham gia Chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội năm 2019.

Trên thực tế những năm qua, sản phẩm chủ lực của thành phố đã có những đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Trong năm 2018, với 61 sản phẩm được công nhận là sản phẩm công nghiệp thuộc các lĩnh vực công nghiệp ưu tiên. Tổng doanh thu của 61 sản phẩm công nghiệp chủ lực chiếm 35,2% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố; chiếm 7,7% tổng sản phẩm trên địa bàn. Ngoài ra, các sản phẩm này còn đóng vai trò chủ lực trong xuất khẩu, với kim ngạch đạt trên 10 nghìn tỷ đồng.

Ông Nguyễn Vũ Cường, thành viên HĐQT, Tổng giám đốc Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh chia sẻ, là DN có sản phẩm chủ lực  được thành phố công nhận giúp DN nỗ lực đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm. Các sản phẩm của DN đã được đưa vào thực tế trải rộng khắp cả nước và  trở thành một trong những DN hàng đầu về sản xuất thiết bị điện trong nước và khu vực Đông Nam Á. Năm 2018 tổng công ty hoàn thành tốt 17 dự án máy biến áp 220kV dịp cuối năm với tiến độ vượt bậc, máy biến áp 110kV được vinh danh là sản phẩm công nghiệp chủ lực TP. Hà Nội năm 2018. Đồng thời mở rộng thị trường máy biến áp trong các lĩnh vực điện mặt trời, điện gió, xuất khẩu máy biến áp phân phối. Công tác quản trị được nâng cao, sắp xếp cơ cấu lại sản xuất đã phát huy hiệu quả. Công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động ổn định, uy tín thương hiệu EEMC ngày càng được nâng cao.

Nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp ưu tiên Hà Nội phát triển, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thế hệ mới, UBND TP. Hà Nội đã ban hành Quyết định số 496/QĐ-UBND ngày 26/1/2018 phê duyệt "Đề án phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực TP. Hà Nội đến năm 2020, định hướng tới năm 2025".

Ông Lê Hồng Thăng, Giám đốc Sở Công thương Hà Nội cho rằng, trong năm 2019 thành phố sẽ triển khai chính sách hỗ trợ các DN tham gia Chương trình sản phẩm công nghiệp chủ lực. Hỗ trợ DN phát triển sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cường các hoạt động hợp tác, liên doanh, liên kết thông qua tổ chức Hội nghị kết nối các DN sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội với các DN vùng Thủ đô và các tỉnh lân cận tạo chuỗi liên kết giá trị sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Thành phố cũng đồng thời cung cấp thông tin thị trường trong nước, giới thiệu các sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội và các DN có sản phẩm công nghiệp chủ lực nhằm mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh, thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế.

Nguyễn Minh

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.190
41.610
Vàng nữ trang 9999
40.640
41.440