Tạo thế cân bằng cho xe trong nước

09:28 | 09/07/2020

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP về việc giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước. Với việc giảm 50% phí trước bạ hiện hành, người tiêu dùng Việt mua xe nội kỳ vọng, họ có thể sở hữu được xe sản xuất trong nước với chi phí giảm ít nhất từ vài chục cho đến cả trăm triệu đồng.

Kỳ vọng xe sang giá rẻ

Theo cam kết tại Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA), Việt Nam sẽ mở cửa thị trường cho ô tô nhập khẩu từ EU với thuế suất ưu đãi dần về 0%. Theo đó, thuế suất cơ sở với xe con, trong đàm phán là 78% (xe có dung tích xi lanh dưới 3.0L) và 74% (xe có dung tích xi lanh trên 3.0L). Như vậy, với lộ trình cắt giảm thuế đều mỗi năm, tính từ năm 2020 khi hiệp định có hiệu lực, thì thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ EU về Việt Nam sẽ giảm khoảng 7%/năm, giúp cho giá xe ngày một giảm.

Hiện ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ EU về Việt Nam, hầu hết là xe hạng sang như Mercedes, Audi, BMW, Land Rover; xe siêu sang như Rolls Royce, Bentley và siêu xe như Lamborghini, Ferrari... với mức giá trung bình từ vài tỷ cho đến vài chục tỷ đồng. Ngay cả đến một số dòng xe bình dân như Volkswagen, Volvo, Peugeot... cũng có mức giá trên thị trường từ 1,5 tỷ đồng cho đến hơn 2 tỷ đồng. Như vậy, rõ ràng người tiêu dùng càng được hưởng lợi khi mức thuế có xu hướng ngày càng giảm sâu theo cam kết của hiệp định thương mại tự do.

Thời gian tới “cán cân” giữa ô tô nhập khẩu và sản xuất trong nước sẽ có sự cân bằng nhất định

Tương tự, trước đó thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các nước Đông Nam Á (chủ yếu từ Thái Lan, Indonesia) cũng đã được giảm xuống mức 0% theo nội dung Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) được áp dụng ngay từ đầu năm 2018. Ngoài ra, Việt Nam cũng ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do hàng hóa với một số nước trong khu vực tạo điều kiện cho hàng hóa nhập khẩu, trong đó có mặt hàng ô tô nguyên chiếc từ những quốc gia này giảm giá mạnh.

Theo nhận định của các chuyên gia, xe nhập khẩu với chất lượng tốt, giá cả phù hợp, có xu hướng giảm dần theo lộ trình cắt giảm thuế khiến cho lượng xe nhập khẩu vào thị trường Việt Nam tăng mạnh trong những năm qua, tạo áp lực đáng kể cho các hãng và dòng xe sản xuất, lắp ráp trong nước.

Tạo sự hài hòa

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP về việc giảm lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước. Với việc giảm 50% phí trước bạ hiện hành, người tiêu dùng Việt mua xe nội kỳ vọng, họ có thể sở hữu được xe sản xuất trong nước với chi phí giảm ít nhất từ vài chục cho đến cả trăm triệu đồng.

Tuy nhiên, điều này đã vấp phải phản ứng từ Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) khi cho rằng đây là sự phân biệt đối xử và các doanh nghiệp châu Âu mong muốn Việt Nam áp dụng điều này cả cho xe ôtô nhập khẩu.

Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Hải quan, lượng xe ôtô nhập khẩu tháng 6/2020 ước đạt 3.000 chiếc, giảm 44,5% so với tháng trước và trị giá là 68 triệu USD, giảm 37,4% so với tháng trước. Tổng lượng xe nhập 6 tháng đầu năm ước đạt 39.000 chiếc, kim ngạch đạt 879 triệu USD, bình quân giá xe nhập đạt gần 520 triệu đồng/chiếc. Lượng xe nhập về Việt Nam trong 6 tháng qua ước giảm 47% về lượng và gần 48% về trị giá.

Từ đầu năm cho đến nay, do chịu tác động của dịch Covid-19, lượng xe ôtô nhập khẩu về Việt Nam liên tục giảm. Ngoài ra, sau khi Chính phủ đồng ý giảm 50% lệ phí trước bạ ôtô đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết năm 2020 để kích cầu tiêu dùng. Chính sách này đã ít nhiều khiến người dân chờ đợi mua xe ôtô sản xuất, lắp ráp trong nước để được giảm lệ phí trước bạ từ vài chục đến cả trăm triệu đồng tùy từng mẫu xe.

Trước đó, một chính sách khác cũng được coi là “cứu nguy” cho nền công nghiệp ô tô trong nước chính là Nghị định số 57/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan. Trong đó, đáng lưu ý về thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện để sản xuất, gia công lắp ráp các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển cho ngành sản xuất, lắp ráp ô tô giai đoạn 2020-2024 sẽ về 0%. Với những chính sách mới này, các chuyên gia trong ngành đánh giá, dự kiến thời gian tới “cán cân” giữa ô tô nhập khẩu và sản xuất trong nước sẽ có sự cân bằng nhất định, sự lựa chọn còn tùy thuộc vào người tiêu dùng.

Nhật Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600