Thách thức của ngân hàng vẫn còn phía trước

08:00 | 05/08/2020

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng, nợ xấu là thách thức lớn nhất trong năm nay cũng như vài năm tới của các ngân hàng trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay. Nợ xấu tăng nhưng ngân hàng vẫn phải đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo áp lực không hề nhỏ cho ngân hàng. Chưa kể, ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro làm hao mòn lợi nhuận ngân hàng...

thach thuc cua ngan hang van con phia truoc Luôn sẵn sàng phương án hỗ trợ doanh nghiệp
thach thuc cua ngan hang van con phia truoc Khó khăn lại bủa vây ngân hàng
thach thuc cua ngan hang van con phia truoc Phép thử Covid-19

Vững vàng trước thử thách

Tại cuộc họp đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 42 của Quốc hội, Đề án 1058 “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”, Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Phép thử lớn nhất đối với hệ thống TCTD là dịch Covid-19, trong 6 tháng qua, không chỉ trụ vững mà còn tham gia nhanh, kịp thời của TCTD đối với sự phát triển ổn định kinh tế đất nước, đóng góp vào tăng trưởng dương của Việt Nam.

Tại cuộc họp mới đây, Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng một lần nữa đánh giá cao nỗ lực của toàn hệ thống ngân hàng. Khó khăn như vậy nhưng các ngân hàng không những xử lý được vấn đề của mình mà còn hỗ trợ được cho nền kinh tế thông qua các giải pháp cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, cho vay với lãi suất ưu đãi… “Mặc dù nền kinh tế bị tác động mạnh, nhưng các ngân hàng vẫn đồng hành cùng Chính phủ hỗ trợ cho người dân, DN, chứng tỏ sức khỏe các TCTD được củng cố và nâng cao trong những năm qua. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả công tác cơ cấu lại, xử lý nợ xấu”, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng nhấn mạnh.

thach thuc cua ngan hang van con phia truoc
Các ngân hàng vẫn đồng hành cùng Chính phủ hỗ trợ cho người dân, DN

Tổ trưởng Tổ tư vấn của Thủ tướng, TS. Nguyễn Đức Kiên cũng ghi nhận nỗ lực trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đã giữ ổn định lãi suất và lãi suất có xu hướng giảm nhẹ, tỷ giá ổn định… Nhờ điều hành chính sách tiền tệ khá tốt cùng với một số yếu tố khác trong điều hành của Chính phủ đã giúp cho nền kinh tế giảm sốc.

Những kết quả tích cực trên vẫn chưa thể khiến nỗi lo lắng vơi đi khi dịch Covid-19 quay trở lại rất phức tạp có thể tiếp tục khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, DN vô cùng khó khăn. “Vốn dĩ tình hình kinh tế đã khó giờ lại khó khăn hơn gấp bội”, TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nhận định và cho rằng: Thách thức lớn nhất là khả năng kiểm soát khống chế dịch đến đâu và chúng ta phải lên mọi kịch bản để đưa ra giải pháp ứng phó. Kịch bản tốt nhất sẽ chỉ xảy ra ở Đà Nẵng và một vài tỉnh lân cận chứ không lan rộng, còn tình huống xấu nhất đó là phải giãn cách xã hội. “Nếu tình huống này xảy ra nó sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế và hoạt động hệ thống ngân hàng không thể ngoại lệ. Kinh tế thậm chí có thể tăng trưởng âm. Thách thức đối với hoạt động ngân hàng còn rất lớn ở phía trước”, TS. Thành quan ngại.

Cũng có chung lo ngại như vậy, TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng, nợ xấu là thách thức lớn nhất trong năm nay cũng như vài năm tới của các ngân hàng trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay. Nợ xấu tăng nhưng ngân hàng vẫn phải đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo áp lực không hề nhỏ cho ngân hàng. Chưa kể, ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro làm hao mòn lợi nhuận ngân hàng. Theo tính toán của TS. Lực, lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2020 sẽ giảm từ 20 - 25% so với kế hoạch ban đầu.

Vẫn phải đảm đương nhiệm vụ kép

Khó khăn là vậy, nhưng ngân hàng vẫn phải nhận thêm nhiệm vụ kép từ Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu, ngoài thực hiện nhiệm vụ kép như các ngành, lĩnh vực khác, hệ thống tín dụng của chúng ta cũng cần thực hiện nhiệm vụ kép rất đặc thù, đó là vừa đẩy mạnh cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu, vừa hỗ trợ hiệu quả thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Rõ ràng, nhiệm vụ Chính phủ giao không thể không thực hiện. Vậy các ngân hàng cần làm gì để tiếp tục trụ vững vừa đảm bảo an toàn hoạt động, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế?

Nhìn vào tổng thể, theo nhận định của TS. Võ Trí Thành, mục tiêu kiên định của Chính phủ cũng như NHNN là không để phá vỡ ổn định vĩ mô. Do vậy, đòi hỏi nghệ thuật điều hành chính sách tiền tệ của NHNN phải rất khéo léo vừa phải đúng thời điểm hỗ trợ được tăng trưởng kinh tế, vừa không làm mất ổn định vĩ mô trong bối cảnh bất định rủi ro cao. Từ đó, củng cố lòng tin của người dân, DN vào điều hành chính sách của hệ thống ngân hàng, người dân tiếp tục tin vào giá trị đồng VND, gửi tiết kiệm vào ngân hàng... “Lòng tin là phép thử tiếp theo đối với hệ thống ngân hàng”, TS. Thành cho biết.

Trên thực tế, hiện mặc dù người dân, DN và cả ngân hàng đều khó khăn, nhưng theo TS. Cấn Văn Lực, đến thời điểm này cả hai bên cùng phải đồng hành để vượt qua. Tuy nhiên trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp trở lại, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, để tiếp tục trụ vững vừa đảm bảo an toàn hoạt động, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, các ngân hàng cần tập trung vào mấy điểm sau.

Thứ nhất, phải bám sát thực hiện Thông tư 01 và tới đây là Thông tư 01 sửa đổi. Hai là tiếp tục đưa ra gói tín dụng phù hợp với lãi suất thấp hơn và linh hoạt hoá các điều kiện tín dụng nhưng không có nghĩa là hạ chuẩn để đẩy mạnh cho vay mới. Thứ ba, thúc đẩy ngân hàng số thanh toán dùng tiền mặt vừa tăng thu dịch vụ bù đắp thiếu hụt từ thu tín dụng, nhất là trong bối cảnh nợ xấu tăng lên, vừa phù hợp với xu thế 4.0 và thúc đẩy chiến lược thanh toán không tiền mặt của quốc gia.

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Đức Kiên cho rằng, cần tiếp tục kiểm soát nợ xấu, tháo gỡ khó khăn cho người dân, DN qua việc sớm sửa đổi Thông tư 01 theo hướng kéo dài thời gian hỗ trợ, nhất là các ngân hàng nên linh hoạt hóa điều kiện tín dụng đối với các DN. TS. Kiên lấy ví dụ cụ thể, đối với khoản vay BOT của một số đơn vị do chính sách nhà nước giảm phí BOT làm kéo dài thời gian thu phí dẫn đến phương án tài chính BOT của DN bị vỡ. Nếu giờ các ngân hàng không hỗ trợ vẫn yêu cầu DN phải trả nợ đúng hạn sẽ khiến họ gặp rất nhiều khó khăn và khó khăn này có tính chất dây chuyền. Về lý thuyết, ngân hàng hoàn toàn không sai khi yêu cầu thu nợ, nhưng trong giai đoạn khó khăn này, DN và ngân hàng cần phải sát cánh, chia sẻ khó khăn để hai bên cùng tồn tại và phát triển.

Về phía ngành Ngân hàng, lường đón thách thức trên, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho biết, trong điều hành chính sách tiền tệ những tháng cuối năm sẽ phải thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát theo đúng chỉ tiêu Chính phủ, Quốc hội đặt ra là dưới 4%. Theo đó, các đơn vị phải bám sát tình hình, diễn biến kinh tế trong và ngoài nước để dự báo, đánh giá đúng bản chất và kịp thời tham mưu, đề xuất các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng phù hợp, đảm bảo thanh khoản thị trường, hỗ trợ ổn định và giảm dần mặt bằng lãi suất, kiểm soát tốt lạm phát cơ bản theo mục tiêu đề ra.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250