Thách thức lớn với ngành mía đường

08:59 | 21/03/2019

Việt Nam sẽ chính thức bãi bỏ hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường từ các nước ASEAN kể từ ngày 1/1/2020.

Ngành đường và điểm dựa lưng từ quy mô
Ngành mía đường đuối, doanh nghiệp báo lỗ

Theo Bộ Công thương, việc xóa bỏ hạn ngạch thuế quan này là theo cam kết tại Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Vì vậy, doanh nghiệp ngành mía đường trong nước sắp tới sẽ khó khăn hơn khi phải cạnh tranh với đường giá rẻ từ các nước sản xuất đường trong TOP đầu thế giới như Thái Lan.

Ngành mía đường trong nước sắp tới sẽ khó khăn hơn khi phải cạnh tranh với đường giá rẻ từ các nước

Ông Nguyễn Hải, Tổng Thư ký Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho biết, dự báo của ngành mía đường thế giới cho niên vụ 2018/2019 sẽ dư thừa khoảng 5 triệu tấn so vụ mía đường năm trước. Và mức dư thừa này sẽ kéo dài đến hết năm 2019, nên có thể giá sẽ giảm thấp nhất trong 5 năm qua.

Riêng Việt Nam, bên cạnh những khó khăn chung do lượng đường tồn kho dư cung cao (trung bình từ 400.000 tấn – 600.000 tấn/năm), ngành mía đường đã luôn chịu áp lực cạnh tranh với đường nhập lậu từ Lào, Thái Lan, với giá bán luôn rẻ hơn đường Việt Nam từ 2.000 đồng – 3.000 đồng/kg trong hàng chục năm qua.

Còn hiện nay, khi đang vào vụ thu hoạch mía niên vụ 2019 – 2020 thì cả nhà nông và doanh nghiệp sản xuất đường cũng đối mặt với nhiều khó khăn do giá đường trên thị trường giảm, các nhà máy đường chỉ mua mía nguyên liệu với số lượng hạn chế và sản xuất cầm chừng khoảng 50% công suất của nhà máy để có thể chủ động tiêu thụ, né lỗ do đường tồn kho. Đó là chưa kể ngành trồng mía của Việt Nam (so với Thái Lan) vẫn còn manh mún, tự phát, còn rất ít vùng trồng tập trung theo cánh đồng mẫu lớn.

Cùng với đó, việc thu hoạch, thu mua đều bấp bênh theo thị trường, khiến cả người trồng và doanh nghiệp sản xuất đều không thể chủ động về giá cả và thị trường tiêu thụ, đường tồn kho tăng theo từng năm.

Đây chính là nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp ngành mía đường chưa thể chủ động, tự tin để thích ứng với hoàn cảnh mới, thậm chí nhiều doanh nghiệp vẫn muốn tiếp tục được Chính phủ kéo dài thêm thời gian bảo hộ sản xuất.

Cụ thể, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Mía đường Việt Nam đã đề xuất Bộ Công thương trình Thủ tướng Chính phủ về việc sau khi ATIGA có hiệu lực, chỉ cho nhập khẩu đường thô để tinh luyện và áp dụng cấp giấy phép nhập khẩu để theo dõi đường nhập khẩu nhằm đảm bảo điều tiết cung cầu tại các thời điểm nhất định. Cùng với đó, áp thuế giá trị gia tăng bằng 0% đối với đường sản xuất trong nước hay dừng đấu giá quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2019…

Tuy nhiên, đây là những kiến nghị rất khó thực hiện khi Việt Nam phải tuân theo các cam kết hội nhập quốc tế. Bộ Công thương đã đề xuất với các nước đối tác trong ASEAN tạm đình chỉ thực hiện Điều 20 tại Hiệp định ATIGA (bãi bỏ hạn  ngạch thuế quan nhập khẩu đường từ các nước ASEAN) đến hết năm 2019 đối với mặt hàng đường. Và thời gian để Việt Nam thực hiện Điều 20 trong ATIGA sẽ chính thức bắt đầu từ ngày 1/1/2020.

Để chuẩn bị cho thời kỳ mới, nhiều doanh nghiệp lớn ngành mía đường đã nhanh chóng đổi mới để thích ứng. Theo ông Dương Nguyễn Phúc, Phó Giám đốc Nhà máy đường Nước Trong tại tỉnh Tây Ninh (một trong 9 nhà máy đường thuộc Công ty cổ phần Thành Thành Công - Biên Hoà), nhà máy có vùng nguyên liệu rộng 3.000 ha, sản lượng 200.000 tấn - 280.000 tấn mía/năm, được cơ giới hoá hoàn toàn trong sản xuất. Đây cũng là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp hiện đại, giúp giảm chi phí và tăng năng suất.

Ðể nông dân yên tâm trồng mía, trong niên vụ 2018 - 2019, nhà máy hướng dẫn nông dân áp dụng kỹ thuật canh tác mới, nhằm hạ giá thành sản xuất, gia tăng tính cạnh tranh của cây mía so với các loại cây trồng khác.

Theo đó, vùng nguyên liệu của nhà máy đã sử dụng máy kéo công suất cao để kết hợp cày 3 trong 1 (cày ngầm, bón phân và rạch hàng). Việc cải tiến kỹ thuật cày giúp người trồng mía tiết kiệm chi phí so với quy trình cũ (thực hiện lần lượt từng khâu) và tiết kiệm chi phí đến 800.000 đồng/ha). Tiếp đến là kết hợp 3 trong 1 ở khâu diệt cỏ bón phân (bón phân, bừa cỏ, phun thuốc), giúp giảm chi phí hơn 1 triệu đồng/ha. Khâu tưới nước, nông trường áp dụng kỹ thuật tưới mới, giúp tiết kiệm nước, giảm chi phí tưới dẫn đến giảm chi phí chung.

Quy trình sản xuất mới đã giúp nông dân tiết giảm chi phí canh tác từ 30% - 40% so với cách làm cũ, doanh nghiệp bảo đảm đầu ra, duy trì lợi nhuận của người trồng mía, đưa doanh nghiệp sản xuất ổn định, chủ động được sản lượng đường hàng năm đưa ra thị trường.

Đây chính là những bước đi vững chắc, tạo lập sức cạnh tranh khi mở cửa thị trường đường vào năm 2020.

Thanh Trà

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 24.584 25.838 26.669 27.782 28016 220,20
BIDV 23.560 23.720 25.003 25.810 26.990 27.534 207,78 215,98
VietinBank 23.538 23.708 24.992 25.827 27.024 27.664 210,59 218,29
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.530 23.700 24.894 25,549 27.052 27.764 210,34 215,88
ACB 23.530 23.700 24.998 25.434 27.233 27.639 211,70 215,39
Sacombank 23.515 23.700 24.976 25.541 27.120 27.635 210,72 217,13
Techcombank 23.540 23.700 24.725 25.691 26.799 27.727 209,95 216,81
LienVietPostBank 23.530 23.710 24.908 25.563 27.092 27.687 210,51 218,88
DongA Bank 23.560 23.700 24.990 25.280 27.080 27.420 207,90 214,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
Vàng SJC 5c
47.100
47.920
Vàng nhẫn 9999
45.200
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.800
45.900