Thách thức vẫn còn đó nhưng "sau cơn mưa trời lại sáng"

17:39 | 07/07/2021

Báo cáo triển vọng kinh tế vĩ mô của Khối nghiên cứu toàn cầu - Tập đoàn HSBC vừa phát hành ngày 7/7 nhận định, việc GDP quý II/2021 của Việt Nam tăng mạnh lên 6,6% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là do nền tăng trưởng thấp của cùng kỳ năm 2020.

thach thuc van con do nhung sau con mua troi lai sang Bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế-xã hội đã đề ra
thach thuc van con do nhung sau con mua troi lai sang Triển vọng sáng với kinh tế Việt Nam năm 2021
thach thuc van con do nhung sau con mua troi lai sang

Tuy nhiên, những thách thức Việt Nam đang đối mặt là rất lớn trước tác động từ đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ tư hiện nay - nặng nề nhất từ khi đại dịch xuất hiện. Trong đó, ngành dịch vụ, nhất là du lịch và các lĩnh vực liên quan đến du lịch, đang tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Đóng góp của ngành dịch vụ cho tăng trưởng kinh tế đã giảm từ 45% trước đại dịch xuống chỉ còn khoảng 20% trong quý II/2021.

Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng có dấu hiệu giảm sút khi tăng trưởng bán lẻ ghi nhận mức giảm liên tiếp trong tháng 5 và tháng 6 vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái. Dù ngành bán lẻ vẫn tăng trưởng tích cực trong quý II/2021 (3,4%), nhưng chủ yếu cũng là do nền tăng thấp của cùng kỳ năm ngoái.

Ngoài ra, đợt bùng dịch này khiến điểm yếu của thị trường lao động càng trầm trọng thêm.

Theo các chuyên gia HSBC, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ 2,4% trong quý I/2021 lên 2,6% trong quý II/2021, với tổng số lượng việc làm giảm 65.000 so với quý trước (và thấp hơn 9% so với giai đoạn trước đại dịch).

Trong khi đó, mặc dù bức tranh xuất nhập khẩu vẫn khá tươi sáng, tăng trưởng khả quan trong quý II vừa qua nhưng các chỉ số dự báo vẫn chỉ ra những nguy cơ ngắn hạn của tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng.

Đơn cử, chỉ số PMI tháng 6 lao dốc xuống 44,1 điểm, chạm mức thấp nhất trong vòng một năm, với các chỉ số trọng yếu cùng giảm mạnh khi nhiều khu công nghiệp lớn bị ảnh hưởng vì dịch bệnh và tác động lên sản xuất có thể còn tiếp tục gia tăng trong ngắn hạn.

“Dự báo nền kinh tế sẽ còn chững lại ít nhất tới quý III/2021”, báo cáo dự báo.

Tuy nhiên, các chuyên gia HSBC vẫn nhìn nhận lạc quan về khả năng phục hồi kinh tế của Việt Nam.

“Vẫn còn đó nhiều yếu tố tích cực thuận lợi như tăng trưởng vốn FDI và việc mở rộng phát triển công nghệ toàn cầu. Mặc dù còn đi sau nhiều nước về triển khai tiêm chủng, Việt Nam cũng đang nỗ lực thúc đẩy đặt mua vắc-xin. Dựa trên nhiều thông tin công khai, chúng tôi ước tính tới cuối năm 2021, Việt Nam sẽ nhận được 62 triệu liều, đủ để tiêm phòng cho khoảng 30% dân số”, báo cáo nêu.

Khối nghiên cứu của HSBC đã điều chỉnh giảm mức dự báo tăng trưởng của năm 2021 từ 6,6% (dự báo trước đây) xuống 6,1%, phản ánh tác động của đợt bùng dịch lần thứ tư.

“Một khi có thể kiểm soát dịch bệnh COVID-19, Việt Nam sẽ lấy lại đà tăng trưởng nhanh chóng, theo quan điểm của chúng tôi”, báo cáo nhấn mạnh và cho rằng, yếu tố mấu chốt để lấy lại tốc độ tăng trưởng là nhanh chóng kiểm soát đợt bùng dịch COVID-19 hiện nay, đồng thời tăng tốc đặt mua và tiêm phòng vắc-xin.

Về lạm phát, báo cáo dự báo lạm phát bình quân sẽ chỉ ở mức 2,8% trong năm 2021, thấp hơn khá nhiều mục tiêu 4% đặt ra. Điều này cho phép Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì mức độ linh hoạt về chính sách trong năm 2021.

“Những hạn chế gần đây đã khiến nhu cầu điều chỉnh lãi suất không còn qua bức thiết, vì vậy, chúng tôi chỉ kỳ vọng mức điều chỉnh lãi suất 50 điểm cơ bản trong quý IV/2022, từ đó tăng lãi suất tái cấp vốn lên 4,5% vào cuối năm 2022”, báo cáo nêu.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000