Thận trọng “đu đỉnh” chứng khoán

09:31 | 29/11/2021

Đi kèm với chỉ số VN-Index tăng cao thì rủi ro cũng lớn dần, nhà đầu tư tránh tham gia vào các cổ phiếu nhỏ, kém thanh khoản và yếu các nền tảng cơ bản về kinh doanh nhưng đã tăng trưởng quá nóng. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nên hạn chế dùng đòn bẩy tài chính để đề phòng rủi ro khi thị trường có những rung lắc bất ngờ khi lên cao.

VN-Index đã thiết lập đỉnh 1500,81 điểm trong phiên giao dịch ngày 25/11, một phiên giao dịch cảm xúc của thị trường chứng khoán Việt Nam sau 21 năm ra đời. Trong ngày bước lên đỉnh mới, những cổ phiếu hỗ trợ tốt cho thị trường đến các mã thuộc nhóm ngành xây dựng, bất động sản, ngân hàng, chứng khoán hay cao su. Dòng tiền cũng hướng đến nhóm điện nước, xăng dầu, hóa chất, thép với nhiều cổ phiếu giao dịch hứng khởi đóng góp tích cực tới chỉ số. Song, 1.500 điểm cũng kích thích tâm lý chốt lời của một bộ phận nhà đầu tư. Kết quả là phiên giao dịch cuối tuần (ngày 26/11), chỉ số VN-Index giảm nhẹ gần 8 điểm xuống còn 1.493 điểm. Thanh khoản thị trường duy trì ở mức rất cao, hơn 35.000 tỷ đồng.

than trong du dinh chung khoan
Ảnh minh họa

Kết quả này cho thấy dòng tiền chứng khoán vẫn len lỏi tìm kiếm cơ hội đầu tư không ngừng nghỉ. Vì vậy, một số nhà phân tích mạnh dạn dự báo thị trường tích lũy đủ “năng lượng” để có thể tiến xa hơn nữa. Chứng khoán HSC dự báo thị trường vẫn sẽ trong xu hướng tăng giá ngắn hạn. Cụ thể, chỉ số VN-Index có thể sẽ đạt ngưỡng 1.550 điểm trong quý IV/2021. Các ngành có thể dẫn dắt sự tăng trưởng trong thời gian tới là ngân hàng và điện.

Quỹ đầu tư đến từ Phần Lan PYN Elite dự báo VN-Index có thể đạt tới 2.500 điểm vào cuối năm 2024 dựa trên triển vọng tăng trưởng trở lại của nền kinh tế, xuất khẩu và dòng vốn FDI phục hồi, đặc biệt là gói kích thích kinh tế siêu lớn có tên gọi “Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch bệnh Covid-19, giai đoạn 2022-2023” mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang đề xuất.

Gói hỗ trợ mới sẽ có quy mô lên tới 800.000 tỷ đồng, gấp 3,5 lần gói hỗ trợ của Chính phủ năm 2021. Đây là chương trình phục hồi kinh tế có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Trong đó, bao gồm chương trình phát triển kết cấu hạ tầng, khơi thông nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển với kinh phí phần này khoảng 220.000 tỷ đồng.

Các ngành hưởng lợi đáng kể từ chương trình kích thích kinh tế của chính phủ nhiều khả năng sẽ là xây dựng - bất động sản, vật liệu xây dựng, bán lẻ tiêu dùng, ngân hàng. Bên cạnh đó, các tập đoàn lớn cũng có thể nhận được các hỗ trợ đáng kể để duy trì bộ máy hoạt động và tạo tác động dẫn dắt.

So sánh với một số thị trường trong khu vực, PE của VN-Index vẫn còn khá thấp. Chỉ số PE của VN-Index hiện vào tầm 17.8x, thấp hơn đáng kể so với các thị trường Thái Lan, Philippines và Indonesia đang được định giá ở mức PE là 19-24x. Tỷ suất lợi nhuận tính từ đầu năm đến nay của VN-Index cũng vượt trội hơn hẳn so với các thị trường trong khu vực, điều có thể hấp dẫn các nhà đầu tư ngoại.

“Hiện tại, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng đều đặn, có nghĩa là rủi ro trong nước đã giảm đáng kể. Ngoài ra, lợi suất trái phiếu chính phủ đã giảm xuống còn 2% và có thể dao động trong khoảng 3-4%/năm trong những năm tới. Những yếu tố này cho phép thị trường chứng khoán Việt Nam được định giá cao hơn”, ông Petri Deryng - Giám đốc quỹ PYN Elite nhận định.

Nhưng đi kèm với chỉ số VN-Index tăng cao thì rủi ro cũng lớn dần, nhà đầu tư tránh tham gia vào các cổ phiếu nhỏ, kém thanh khoản và yếu các nền tảng cơ bản về kinh doanh nhưng đã tăng trưởng quá nóng. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nên hạn chế dùng đòn bẩy tài chính để đề phòng rủi ro khi thị trường có những rung lắc bất ngờ khi lên cao.

“Đây là lần đầu tiên chỉ số VN-Index thử thách vùng đỉnh mới 1500 và đang có dấu hiệu chốt lãi ở khá nhiều cổ phiếu tăng trưởng. Với thử thách lần đầu đỉnh cao mới, thị trường chứng khoán cần kiểm tra sự hưng phấn của nhà đầu tư, nên sẽ có những nhịp rung lắc quanh vùng đỉnh mới này. Vì vậy nhà đầu tư cần xem xét mức độ rủi ro tại đây để có chiến lược hợp lý, cũng như chúng tôi khuyến nghị hạn chế giải ngân trên vùng cao này”, chứng khoán Rồng Việt nhận định.

Nam Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.493 22.793 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.503 22.790 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.515 22.795 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.750
53.450
Vàng nữ trang 9999
52.450
53.150