Thất nghiệp tại EU chỉ bằng một nửa Mỹ, tại sao?

10:44 | 05/06/2020

Tỷ lệ thất nghiệp ở Liên minh châu Âu đã tăng mạnh vào tháng 4 do số người mất việc làm tăng nhanh vì đại dịch Covid-19. Nhưng các chương trình làm việc ngắn hạn tại khu vực - phổ biến hơn nhiều so với các chương trình tương tự ở Hoa Kỳ - đã giúp giảm bớt cú đánh của Covid-19 với thị trường lao động.

Thất nghiệp cản trở phục hồi kinh tế Trung Quốc
Mỹ mất gần hết số việc làm tạo thêm từ sau khủng hoảng tài chính

Theo số liệu công bố của Cơ quan thống kê EU (Eurostat) ngày 3/6, tỷ lệ thất nghiệp của EU đã tăng lên 6,6% trong tháng 4 từ mức 6,4% trong tháng 3. Nhưng tình trạng mất việc làm không trải đều ở tất cả các nước thành viên. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở Tây Ban Nha tăng lên 14,8% từ mức 14,2% của tháng 3 thì tỷ lệ thất nghiệp tại Đức vẫn ổn định ở mức 3,5%.

Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, dữ liệu cũng cho thấy dù đang phải đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ những năm 1930 (Ủy ban châu Âu dự đoán GDP ở 19 quốc gia sử dụng đồng Euro sẽ suy thoái ở mức 7,75% trong năm nay) nhưng dường như EU đang làm tốt hơn Mỹ khi không để tỷ lệ thất nghiệp gia tăng mạnh. Theo các nhà kinh tế, một trong những yếu tố quan trọng giúp thất nghiệp ở EU không tăng mạnh đột ngột các chương trình làm việc ngắn hạn được áp dụng rộng rãi. Các chương trình này khuyến khích các công ty đang gặp khó khăn giữ chân nhân viên bằng cách giảm thời gian làm việc. Nhà nước sau đó trợ cấp một phần tiền lương cho người lao động. Ví dụ ở Đức, chính phủ chi trả từ 60% đến 67% tiền lương cho những giờ không làm việc.

"Các kế hoạch làm việc trong thời gian ngắn có hiệu quả đáng kinh ngạc trong việc làm giảm bớt tác động ban đầu của cuộc khủng hoảng kinh tế", Bert Colijn, chuyên gia kinh tế khu vực đồng Euro tại Dutch Bank ING, cho biết. Các chương trình này từ lâu đã phổ biến ở châu Âu, nơi thường khó tuyển dụng cũng như sa thải nhân viên, và nhiều nhân viên được bảo vệ bởi các thỏa thuận thương lượng tập thể. Các chương trình như vậy ít được dụng hơn tại Hoa Kỳ, nền kinh tế có mức thất nghiệp lên tới 14,7% trong tháng 3 vừa qua.

Theo một khảo sát của Viện Công đoàn châu Âu, tính đến cuối tháng 4, các doanh nghiệp tại khu vực đã nộp khoảng 42 triệu đơn xin hỗ trợ người lao động thông qua các chương trình làm việc ngắn hạn, tương đương với gần 27% lao động tại EU. Nhưng chuyên gia kinh tế Anna Titareva của UBS cho rằng, các cuộc khảo sát thị trường lao động có thể đã không nắm bắt được toàn bộ thiệt hại đối với người lao động EU. Như theo cuộc khảo sát này, tỷ lệ thất nghiệp ở Ý đã giảm xuống chỉ còn 6,3% trong tháng 4, một con số đáng ngạc nhiên từ mức 8% trong tháng 3. "Có vẻ như một số người bị mất việc sau khi các hạn chế đi lại được đưa ra đã không được tính là thất nghiệp", Titareva nghi vấn.

Chuyên gia này cho biết, để được coi là thất nghiệp theo các mục tiêu khảo sát của EU, một người phải tích cực tìm kiếm công việc và sẵn sàng bắt đầu một công việc mới trong vòng hai tuần tiếp theo. Thế nhưng do đại dịch Covid-19, các hạn chế đi lại được ban bố, hoặc nhu cầu chăm sóc trẻ phải nghỉ học ở nhà vì dịch có thể đã buộc mọi người phải ngừng tìm kiếm việc làm trong giai đoạn này.

Các chuyên gia cũng cho rằng, chương trình làm việc ngắn hạn của châu Âu tuy hoạt động tốt, đóng vai trò như các biện pháp ngăn chặn thất nghiệp gia tăng nhưng chúng chỉ là giải pháp tạm thời. Thất nghiệp có tiếp tục tăng cao hay không phần lớn sẽ phụ thuộc vào thời gian và quy mô của suy thoái kinh tế kéo dài bao lâu. "Nếu sự phục hồi diễn ra trong một thời gian khá dài thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng đáng kể", chuyên gia Colijn nhận định.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080