Thị trường chứng khoán Mỹ sẽ thế nào trong năm 2020?

09:54 | 03/01/2020

Giới phân tích nhận định, chứng khoán Mỹ bước vào năm 2020 với ít động lực hơn so với năm 2019.

Năm 2019 là một năm mà chứng khoán Mỹ có nhiều biến động, song chốt lại vẫn ghi nhận mức tăng theo năm cao nhất trong 6 năm. Trong bối cảnh phải đối mặt với một số trở ngại trong năm mới như việc Fed phát tín hiệu ngừng cắt giảm lãi suất, tác động của chính sách cắt giảm thuế đã hết và một thỏa thuận thương mại toàn diện với Trung Quốc còn xa vời thì liệu thị trường có thể tiếp tục tăng vọt trong năm 2020?

Ảnh minh họa

Giới phân tích nhận định, chứng khoán Mỹ bước vào năm 2020 với ít động lực hơn so với năm 2019. Mặc dù vậy, các nhà đầu tư vẫn còn nhiều điều để lạc quan. Thị trường lao động lành mạnh và chi tiêu tiêu dùng vẫn mạnh mẽ là những chỉ báo cho thấy tăng trưởng kinh tế có thể tốt hơn. Dù một số dự báo nhận định kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm nay nhưng cũng lưu ý rằng, nếu các căng thẳng thương mại được giải quyết và tăng trưởng toàn cầu hồi phục trở lại có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ ở mức mạnh hơn.

Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đạt được thống nhất về thỏa thuận sơ bộ thương mại giai đoạn một vào giữa tháng 12/2019. Tổng thống Donald Trump cho biết trong một dòng tweet hôm thứ Ba vừa qua rằng, thỏa thuận này sẽ được ký vào ngày 15/1 tới. Nhưng mặt khác, hai nước vẫn còn nhiều vấn đề phải đàm phán, trong khi đó Mỹ cũng đang có căng thẳng thương mại với nhiều đối tác khác như Pháp, Đức, Brazil, Argentina… và triển vọng giải quyết như thế nào cũng thu hút sự chú ý của thị trường trong năm nay.

Mặc dù về cơ bản, các nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán Mỹ sẽ tiếp tục tăng trưởng cao hơn trong năm mới. Nhưng ngay cả với các nhà phân tích có dự báo mức tăng lạc quan nhất thì cũng đều nhận định mức tăng sẽ không bằng những gì 2019 đã đạt được. Chiến lược gia đầu tư John Lynch của LPL Financial dự báo Chỉ số S&P 500 sẽ tăng khoảng 0,9% đến 2,5% trong năm nay. Trong khi đó Citi Group nhận định mức tăng cả năm sẽ chỉ dưới 5%. Chiến lược gia trưởng của Capital Bank Management, Terry Sandven, thì kỳ vọng mức tăng là 3%. Tất cả các mức dự báo đó đều thấp hơn rất nhiều so với những gì mà S&P 500 đã đạt được trong năm 2019. Cụ thể chỉ số này đã tăng tới 29% trong năm ngoái. Các chỉ số khác gồm Dow Jones và Nasdaq Composite cũng đều có mức tăng trên 20% trong năm vừa qua.

Triển vọng tăng của thị trường năm 2020 dù khiêm tốn hơn 2019 song cũng không phải không có rủi ro. Trong đó, diễn biến chính trường Mỹ trước, trong và sau bầu cử tổng thống vào tháng 11 ra sao sẽ là một trong những tâm điểm thu hút chú ý. Phản ứng của thị trường sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc ai sẽ là ứng cử viên nổi lên của đảng Dân chủ để cạnh tranh Tổng thống đương nhiệm Donald Trump. Các kế hoạch, chính sách tài chính và kinh tế của ứng cử viên đó vì vậy sẽ được giới đầu tư xem xét rất kỹ lưỡng.

Trong khi đó, việc giá cổ phiếu đã rất cao ở thị trường Hoa Kỳ như diễn biến trong năm 2019 có thể khiến các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội tốt hơn ở các thị trường khác. Điều đó có thể tạo ra một cơn gió ngược cho thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, các yếu tố có thể khiến chấm dứt chuỗi tăng kéo dài của thị trường - dù dường như ít xảy ra nhưng cũng là những rủi ro mà các nhà đầu tư không thể bỏ qua. Trong đó bao gồm: lãi suất có thể tăng trở lại, giá dầu tăng cao hơn hay nguy cơ xảy ra suy thoái kinh tế…

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000