Thị trường chứng khoán: Tháng 11 mang theo những dấu hiệu tích cực

09:13 | 15/11/2019

​Các chuyên gia của Công ty Chứng khoán SSI cho rằng, tháng 11 mang theo những dấu hiệu tích cực cho thị trường chứng khoán Việt Nam. VN-Index chính thức bứt phá qua ngưỡng tâm lý 1.000 điểm, nhờ sự nâng đỡ của một bộ phận các cổ phiếu vốn hóa lớn, đáng chú ý là nhóm Vingroup (VIC, VRE, VHM).

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 14/11
Liệu có đáy 1.000 điểm?

Nhìn lại nền tảng thị trường tháng 10, ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Giám đốc phân tích và tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân của SSI cho biết, nếu lấy mức giá đóng cửa của VN-Index vào ngày 30/9 làm tham chiếu, thì chỉ số vận động ở vùng giá giảm trong phần lớn thời gian của tháng 10. Áp lực bán ròng từ khối ngoại cùng với sự thận trọng trong hoạt động giải ngân của nhà đầu tư là các yếu tố giải thích cho trạng thái trên.

Tính riêng trên HoSE, NĐTNN bán ròng 1.66 nghìn tỷ đồng, trong đó kênh khớp lệnh chiếm 78%. Dòng vốn khối ngoại quyết định tới vận động của nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn, qua đó tác động tới VN-Index. VIC và MSN là hai cổ phiếu ảnh hưởng nhiều tới xu hướng điều chỉnh của chỉ số và cả hai đều thuộc nhóm top bán ròng của khối ngoại. Ở chiều ngược lại, khối ngoại tập trung mua ròng đối với VCB (225,6 tỷ đồng), BID (102,5 tỷ đồng). Đây cũng là 2 cổ phiếu hỗ trợ nhiều nhất cho chiều đi lên của VN-Index.

Tuy nhiên, thanh khoản trên HoSE và toàn thị trường đều thấp nhất trong vòng 3 tháng qua. Giá trị giao dịch (GTGD) bình quân phiên trên HoSE đạt trên 4 nghìn tỷ đồng trong khi quy mô ở trên toàn thị trường là 4,63 nghìn tỷ đồng. Đóng góp từ khối ngoại trong tổng GTGD tiếp tục giảm xuống và hiện đang ở mức thấp nhất trong năm 2019 (10,32%). Tỷ trọng tương ứng trong tháng 9 là 12,5%.

Ở chiều ngược lại, vị chuyên gia đến từ SSI cũng cho biết, lợi nhuận quý 3/2019 tăng trưởng tích cực. Nếu như 6 tháng 2019, lợi nhuận sau thuế (LNST) trên toàn thị trường và trên HoSE chỉ tăng nhẹ 5,31% so với cùng kỳ năm trước và 5,43% so với cùng kỳ năm trước thì con số 9T2019 thể hiện một bức tranh tích cực hơn, nhờ mức tăng trưởng cao trong quý 3/2019. Tính đến nay, đã có khoảng 850 DN công bố kết quả kinh doanh (KQKD) quý 3. LNST của toàn thị trường trong tăng mạnh 20,87% so với cùng kỳ năm trước. Con số tương ứng đối với sàn HoSE và nhóm VN30 lần lượt là 20,4% và 23,76%. Lũy kế từ đầu năm, LNST trên toàn thị trường tăng 12,75% so với cùng kỳ năm trước.

Xét riêng nhóm VN30, tất cả các DN đều báo lãi trong quý này, trong đó có 21 công ty tăng lãi. Mức tăng của lợi nhuận đến chủ yếu từ hai nhóm ngân hàng và bất động sản, với tổng tỷ trọng đóng góp là 82%. Đây cũng là 2 lĩnh vực có vốn hóa lớn nhất thị trường chứng khoán Việt Nam ở thời điểm hiện tại.

Mùa công bố KQKD quý 3 còn chứng kiến sự phân hóa về biến động giá cổ phiếu và tăng trưởng lợi nhuận. Có 16 DN trong rổ VN30 ghi nhận giá cổ phiếu tăng trưởng cùng chiều với lợi nhuận, đáng chú ý có VCB, CTG, HDB, PNJ... Trong khi đó, giá một số cổ phiếu diễn biến ngược chiều với tăng trưởng lợi nhuận, dựa trên câu chuyện riêng của từng DN. Với MWG, mặc dù lợi nhuận tăng trưởng mạnh nhưng giá cổ phiếu điều chỉnh nhẹ do kỳ vọng về KQKD của MWG đã được phản ánh trong các tháng trước đó.

Ông Linh cho rằng, thương chiến Mỹ - Trung tạm thời lắng xuống là thông tin tốt giúp bình ổn tâm lý của nhà đầu tư toàn cầu. Vận động tích cực của các chỉ số chứng khoán chủ chốt trên thế giới góp phần hỗ trợ cho tâm lý nhà đầu tư Việt Nam cùng diễn biến của VN-Index.

“Tháng 11 mang theo những dấu hiệu tích cực cho thị trường chứng khoán Việt Nam”, ông Linh nói và cho biết, động lực hỗ trợ cho chỉ số còn đến từ câu chuyện Mỹ và Trung Quốc ngày càng đến gần hơn với một thỏa thuận thương mại, giúp bình ổn tâm lý nhà đầu tư. Dòng vốn đầu tư của các NĐTNN rất có thể sẽ tích cực hơn không chỉ trong tháng 11 mà còn các tháng sau đó nhờ xu hướng giảm lãi suất và tiến triển đàm phán Mỹ - Trung. Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đang diễn ra dự kiến sẽ thay đổi chính sách vĩ mô theo hướng tích cực, cần lưu ý là việc thông qua Luật Chứng khoán (sửa đổi) nhằm phục vụ cho sự phát triển dài hạn của TTCK.

Tuy nhiên, thị trường tháng 11 cũng có những áp lực nhất định. Mùa công bố KQKD qua đi khiến cho thị trường thiếu vắng thông tin liên quan đến cơ bản DN. Dòng vốn nước ngoài dù được dự đoán tích cực hơn nhưng cũng còn phụ thuộc nhiều vào quan hệ Mỹ - Trung, vốn luôn có những bất ngờ vào phút chót và khiến thị trường lo sợ.

“VN-Index nhiều khả năng sẽ vận động trên ngưỡng 1.000 điểm trong tháng 11 và với giả định không có diễn biến xấu từ dòng vốn ngoại, xu hướng đi ngang và nhích tăng có thể được duy trì cho đến hết năm”, đại diện SSI nhận định.

Trần Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530