Thị trường hàng hóa: Giá dầu thô nối dài đà tăng

09:30 | 07/10/2022

Thông tin từ Sở giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), thị trường hàng hóa đóng cửa hôm qua (6/10) với diễn biến phân hóa trên bảng giá. Chỉ số MXV-Index quay đầu giảm không đáng kể, xuống mức 2.540 điểm, kết thúc chuỗi tăng 3 phiên liên tiếp trước đó.

thi truong hang hoa gia dau tho noi dai da tang

Lực mua tiếp tục gia tăng trên nhóm năng lượng và kim loại. Trong khi đó, sắc đỏ chiếm ưu thế đối với nhóm nông sản và nguyên liệu công nghiệp. Dòng tiền đầu tư đến thị trường vẫn cho thấy sự ổn định, giá trị giao dịch toàn Sở duy trì ở mức 4.100 tỷ đồng.

Giá dầu tăng phiên thứ 4 liên tiếp

Giá dầu tăng phiên thứ 4 liên tiếp, ghi nhận đà tăng mạnh nhất kể từ tháng 5. Cụ thể, kết thúc phiên giao dịch ngày 6/10, giá WTI tăng 0,79% lên 88,45 USD/thùng và giá Brent tăng 1,12% lên 94,42 USD/thùng.

thi truong hang hoa gia dau tho noi dai da tang

Một ngày sau quyết định cắt giảm sản lượng của Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh OPEC+, một loạt các tổ chức lớn đồng loạt nâng dự báo giá dầu. Ngân hàng Goldman Sachs đã nâng dự báo giá dầu trong cuối năm nay từ 100 USD/thùng lên 115 USD/thùng, trong khi Morgan Stanley cho rằng giá Brent sẽ quay trở về ngưỡng 100 USD/thùng trong quý I năm sau.

Theo nhiều ước tính, sản lượng thực tế sẽ giảm khoảng 0,6-1,1 triệu thùng/ngày, do chỉ có một vài quốc gia như Saudi Arabia, UAE, Kuwait cần phải cắt giảm sản lượng để tuân thủ hạn ngạch. Theo Morgan Stanley, quyết định của OPEC+ có thể đẩy thị trường trở lại trạng thái thâm hụt 0,9 triệu thùng/ngày trong năm 2023.

Tuy vậy, đà tăng của giá dầu bị hạn chế khi Mỹ cho biết họ sẽ tìm các giải pháp để hạ nhiệt thị trường. Giá nhiên liệu tăng cao đã là một trong các nguyên nhân chính đẩy lạm phát lên mức đỉnh 40 năm, gây rủi ro cho nền kinh tế Mỹ. Hiện tại, giải pháp khả thi nhất là tiếp tục mở kho dầu dự trữ chiến lược. Nhà Trắng cũng chưa hoàn toàn bác bỏ phương án cấm các công ty trong nước xuất khẩu xăng dầu.

Trong khi đó, EU đã thông qua gói cấm vận thứ 8 nhằm trừng phạt Nga, sau khi nước này sáp nhập 4 tỉnh của Ukraine. Tuy vậy, EU vẫn chưa thống nhất được cơ chế để áp đặt trần giá lên dầu Nga. Phát biểu duy nhất liên quan đó là mức trần giá sẽ phải thấp hơn giá thị trường hiện tại, nhưng vẫn đủ cao để Nga muốn bán dầu ra thị trường.

“Thị trường dầu ngày càng trở nên phức tạp với sự can thiệp của các khối, nhóm nước. Giá dầu có thể sẽ quay trở lại trạng thái biến động mạnh trong thời gian tới, đặc biệt khi vẫn còn nhiều yếu tố khó có thể kiểm soát như độ khắc nghiệt của mùa đông năm nay hay tình hình dịch Covid-19 của Trung Quốc liệu có cải thiện để nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu gia tăng trở lại hay không”, MXV nhìn nhận.

Sắc đỏ bao trùm bảng giá nông sản

Kết thúc phiên giao dịch ngày 6/10, khô và dầu đậu tương đã đóng cửa trái chiều nhau. Dầu đậu tương là mặt hàng nông sản duy nhất tăng giá trong khi khô đậu sụt giảm dưới mức 400 USD/tấn. Giá đậu tương đã quay trở lại đà giảm mạnh và phá vỡ vùng đáy được thiết lập vào đầu tháng 8.

“Trong bối cảnh triển vọng nhu cầu nhập khẩu đậu tương Mỹ đang suy yếu vẫn là yếu tố tạo áp lực lên giá, những số liệu trong báo cáo cung - cầu nông sản Brazil được CONAB công bố vào tối qua càng thúc đẩy lực bán đối với mặt hàng này”, MXV lưu ý.

Cụ thể, sản lượng đậu tương Brazil niên vụ 2022/2023 được dự báo sẽ đạt mức kỷ lục 152,35 triệu tấn, tăng mạnh tới hơn 20% so với niên vụ trước. Đây là báo cáo đầu tiên trong năm đề cập tới các số liệu cho mùa vụ 2022/2023 đang được gieo trồng của quốc gia Nam Mỹ này nên sẽ đóng vai trò khá quan trọng trong việc xác định xu hướng giá.

thi truong hang hoa gia dau tho noi dai da tang

Trong khi đó, giá ngô đã sụt giảm sau 4 phiên liên tiếp tăng giá. Ở báo cáo mới nhất, Cơ quan Cung ứng Mùa vụ của chính phủ Brazil (CONAB) đã đưa ra các mức dự báo tích cực đối mùa vụ mới của nước này.

Cụ thể, CONAB dự báo sản lượng ngô niên vụ 2022/2023 của Brazil sẽ đạt mức 126,94 triệu tấn, cao hơn 12,53% so với mức 112,81 triệu tấn trong niên vụ trước. Bên cạnh đó, đáng chú ý là xuất khẩu ngô được dự báo sẽ tăng đến 21,62% so với niên vụ 2021/22 lên mức 45 triệu tấn. Điều này cho thấy CONAB có góc nhìn tích cực đối với tình hình bán hàng của Brazil, nhất là khi nước này đang dự định sẽ đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc vào cuối năm nay.

Ngoài ra, trong báo cáo về xuất khẩu hàng tuần công bố ngày hôm qua, trong tuần kết thúc vào ngày 29/9, bán hàng ngô niên vụ 2022/2023 đã giảm 55,7% so với tuần trước đó xuống còn 227.045 tấn. Lũy kế bán hàng ngô tính đến thời điểm hiện tại cũng đang thấp hơn 50,3% so với cùng kỳ niên vụ trước. Đây là những yếu tố đã gây áp lực lên giá ngô CBOT trong ngày hôm qua.

Tương tự ngô, lúa mì cũng đã suy yếu trong phiên vừa rồi với mức giảm hơn 2,5%.

Cũng trong báo cáo hàng tháng của CONAB, cơ quan này đang dự báo sản lượng lúa mì niên vụ 2022/2023 của Brazil sẽ đạt 9,36 triệu tấn, cao hơn 21,88% so với niên vụ trước. Đáng chú ý là số liệu của CONAB cũng tích cực hơn so với mức 8,7 triệu tấn mà USDA dự báo trong báo cáo cung - cầu tháng 9.

“Lúa mì là mặt hàng nông sản chính duy nhất mà Brazil không thể tự cung tự cấp được. Việc sản lượng đang dần được cải thiện qua từng niên vụ sẽ giúp cho nguồn cung của nước này được đảm bảo và gây sức ép lên giá”, MXV nhận định.

Giá thịt lợn hơi trong nước điều chỉnh trái chiều

Trên thị trường nội địa, ghi nhận trong sáng nay, giá thịt lợn hơi trong nước ghi nhận tăng giảm trái chiều tại các tỉnh thành trên cả nước. Hiện tại, giá khảo sát ở các tỉnh thành dao động trong khoảng 53.000 - 62.000 đồng/kg. Như vậy, so với tháng 9, giá thịt lợn hơi trong nước đã giảm từ 2.000 - 3.000 đồng/kg, tuỳ từng khu vực.

thi truong hang hoa gia dau tho noi dai da tang

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong tháng 9, giá heo hơi trên cả nước dao động trong khoảng 54.000 - 69.000 đồng/kg, giảm 5.000 - 10.000 đồng/kg so với cuối tháng 8.

“Dự báo, trong thời gian tới, giá heo hơi sẽ tiếp tục dao động quanh ngưỡng 55.000 - 65.000 đồng/kg. Tuy nhiên, thời điểm cuối năm có thể sẽ thúc đẩy giá thịt lợn hơi tăng trở lại, khi nhu cầu tiêu thụ trong các dịp lễ lớn tăng cao”, MXV dự đoán.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900