Thị trường lao động còn diễn biến khó lường

10:50 | 08/01/2021

Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh, đặc biệt là xuất hiện các chủng biến thể mới có nguy cơ lây lan nhanh hơn như hiện nay, dự báo ảnh hưởng của dịch tới đời sống, việc làm và sản xuất sẽ tiếp tục rất khó lường trong năm nay.

1,6 triệu người mất cơ hội việc làm

Tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 thể hiện rất rõ trên thị trường lao động và cũng đặt ra nhiều thách thức và khó khăn rất lớn trong năm 2021.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (TCTK) về tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý IV/2020 là 55,1 triệu người, tăng 563,8 nghìn người so với quý III. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV là 2,37%, giảm 0,13% so với quý III/2020; tỷ lệ thiếu việc làm là 1,89%, giảm mạnh so với các quý trước (3,08% trong quý II; 2,79% trong quý III); Thu nhập bình quân tháng từ công việc của người lao động đạt 5,7 triệu đồng trong quý IV/2020, tăng 212 nghìn đồng so với quý trước đó… Những số liệu này phản ánh xu hướng phục hồi của thị trường lao động sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II/2020.

thi truong lao dong con dien bien kho luong
Thu nhập bình quân của người lao động khu vực kinh tế, 2019-2020

“Trong quý IV/2020 cho thấy xu thế chuyển biến khá tích cực, khi tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm… đều giảm đi trong khi lực lượng lao động, thu nhập bình quân tháng từ công việc đã tăng so với các quý trước. Tuy nhiên tình hình chung cả năm 2020 thì chưa bằng mức của năm 2019, báo hiệu trong thời gian tới còn nhiều khó khăn”, Phó Tổng cục trưởng TCTK Phạm Quang Vinh nhận định.

Bên cạnh đó theo Vụ trưởng Vụ thống kê Công nghiệp và Xây dựng, TCTK, năng suất lao động và lực lượng lao động trong khu vực DN, đặc biệt trong những ngành đóng góp lớn với tăng trưởng kinh tế như công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, bảo hiểm - ngân hàng… được duy trì và phục hồi tốt nên đã đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP trong năm qua.

Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động rất lớn đến thị trường lao động. Tính đến tháng 12/2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng vì đại dịch. Trong đó, 69,2% người bị giảm thu nhập; 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với 71,6% lao động bị ảnh hưởng. Tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng (64,7%); khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (26,4%).

“Tính chung năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,6 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với năm 2019. Trong giai đoạn 2016-2019, trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng 0,8%. Như vậy, nếu lực lượng lao động năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm khoảng 1,6 triệu lao động. Nói cách khác, dịch bệnh có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,6 triệu người”, bà Vũ Thị Thu Thủy, Cục trưởng Cục Thu thập dữ liệu và Ứng dụng công nghệ thông tin, TCTK, nhận định.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2020 là 2,48%, cao hơn 0,31% so với năm 2019. Đại dịch Covid-19 đã đẩy nhiều lao động vào tình trạng không có việc làm, đồng thời khiến cho nhiều người trong số họ buộc phải trở thành lao động làm việc ở khu vực phi chính thức. Ước tính cả năm 2020, số lao động có việc làm phi chính thức là 20,3 triệu người, tăng 119,1 nghìn người, trong khi số lao động có việc làm chính thức là 15,8 triệu người giảm 21,1 nghìn người so với năm 2019.

Cần nhiều giải pháp đồng bộ và hiệu quả

Dịch Covid-19 cũng khiến nhiều người lao động rơi vào tình trạng thiếu việc làm (dù tình trạng này đã phần nào cải thiện trong quý IV/2020). Năm 2020, số lao động trong độ tuổi lao động thiếu việc làm là gần 1,2 triệu người, tăng 456,7 nghìn người so với năm 2019, dẫn đến tỷ lệ thiếu việc làm là 2,51% (năm 2019 chỉ là 1,5%). Đáng chú ý, tình trạng thiếu việc làm đã lan rộng sang cả khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chứ không chỉ tập trung ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản như trước đây.

Ngoài ra, mặc dù thu nhập bình quân tháng từ công việc tăng trong quý IV/2020 nhưng xét cả năm 2020, thu nhập bình quân tháng của người lao động chỉ là 5,5 triệu đồng, giảm 2,3% so với năm 2019 (tương ứng giảm 128 nghìn đồng/tháng). Sự sụt giảm này diễn ra ở cả ba khu vực kinh tế. Trong đó, ngành dịch vụ bị giảm sâu nhất (giảm 215 nghìn đồng/người/tháng), tiếp đến là ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (giảm 156 nghìn đồng); giảm thấp nhất là ngành công nghiệp và xây dựng (giảm 100 nghìn đồng). Theo đại diện Vụ Thống kê Dân số và Lao động, TCTK, tuy mức giảm bình quân đó không lớn, song nếu đặt trong thực tế thu nhập bình quân tháng thường tăng khoảng 500 nghìn đồng trong các năm trước đây (giai đoạn 2015-2019) thì đó là một mức giảm khá lớn.

Như vậy có thể thấy, tác nhân chính khiến thị trường lao động sụt giảm và khó khăn là dịch Covid-19. Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh, đặc biệt là xuất hiện các chủng biến thể mới có nguy cơ lây lan nhanh hơn như hiện nay, dự báo ảnh hưởng của dịch tới đời sống, việc làm và sản xuất sẽ tiếp tục rất khó lường trong năm nay. Theo TCTK và các chuyên gia, để chủ động ứng phó, thích ứng với diễn biến của tình hình dịch cần thực hiện đồng bộ các chính sách. Theo đó, trước tiên cần tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn cho DN, cải cách quy trình, thủ tục để DN tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kịp thời nhằm kích thích nền kinh tế cũng như nhu cầu sử dụng lao động. “Những biện pháp này không chỉ giúp DN và người lao động thoát khỏi nguy cơ phá sản, mất việc và giảm thu nhập mà còn tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển”, bà Vũ Thị Thu Thủy nói.

Mặt khác, cần tích cực triển khai các gói hỗ trợ đặc thù, đa dạng hóa các hình thức trợ cấp, mở rộng các chương trình đào tạo hướng nghiệp phù hợp với nhiều đối tượng, đặc biệt là lao động nữ, lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động phi chính thức nhằm ổn định an sinh xã hội, tạo động lực cho người lao động làm việc, góp sức vào quá trình phục hồi và phát triển kinh tế.

Ngoài ra, phải đẩy mạnh đổi mới, triển khai các chính sách đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thích ứng với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bởi thực tế trên thị trường lao động hiện nay, có khoảng 75% lao động không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Đây chính là hạn chế lớn của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh đại dịch vẫn đang lan rộng và cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ. Chất lượng nguồn lao động chưa cao sẽ là rào cản ngăn cách cơ hội thích ứng và bắt kịp với các xu hướng công nghệ mới, các phương thức kinh doanh mới của thế giới.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800