Thị trường "ngóng" lãi suất hay sức khỏe doanh nghiệp?

16:32 | 06/06/2012

Vào thời điểm hiện tại, mối lo ngại của TTCK không phải là thiếu tiền, mà là vấn đề năng lực của DN không hấp thụ nổi, từ đó liên quan đến nợ xấu. Nếu NH bơm tiền cho vay dưới chuẩn, hậu quả sẽ còn khủng khiếp hơn trong dài hạn.

Bất chấp những thông tin hỗ trợ cực mạnh liên quan đến khả năng nới lỏng tiền tệ, thị trường chứng khoán (TTCK) những ngày đầu tháng 6/2012 tiếp tục sụt giảm với quy mô thanh khoản đến mức tệ hại.

Lãi suất hạ đến mức nào?

Đã thành truyền thống, bất kỳ động thái nới lỏng tiền tệ nào đều tác động mạnh đến TTCK. Không khó để kiểm chứng điều này qua các sóng tăng trong quá khứ. Thậm chí hồi đầu năm nay, lãi suất mới “phong thanh” chuẩn bị hạ, TTCK đã nhanh chân chạy trước hàng tháng trời. Tuy nhiên, có vẻ như một ngoại lệ đang diễn ra.


"Sức khỏe" của doanh nghiệp mới là mối quan tâm của các nhà đầu tư chứng khoán

Ngay từ cuối tháng 5 vừa qua, liên tục các thông điệp của đại diện NHNN cũng như phản ứng của các NHTM đều “đánh tiếng” về khả năng tiếp tục giảm lãi suất huy động, trên cơ sở đó giảm lãi suất cho vay. Quá trình giảm lãi suất gần như thực hiện đúng theo lộ trình được đưa ra từ đầu năm: Mỗi quý có thể giảm 1%.

Cuộc họp giữa NHNN và nhóm G14 hôm 31/5 vừa qua đã tiết lộ khả năng trần lãi suất huy động sẽ được giảm tiếp về 10%/năm và theo đó trần lãi suất cho vay giảm về 13%/năm. Lần đầu tiên TTCK nắm được một kịch bản giảm lãi suất theo đúng lộ trình một tháng một lần, từ 14% và sẽ xuống 10%. Khả năng rất cao lần hạ lãi suất tiếp theo sẽ vào cuối tháng 6, khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tháng này được công bố.

Liệu trần lãi suất huy động 10%/năm đã là con số cuối cùng hay chưa? Mục tiêu đưa lãi suất về 10% đến cuối năm 2012 được Thống đốc NHNN đưa ra từ tháng 12/2011, đi kèm với mục tiêu khống chế lạm phát năm ở mức dưới 10%. Mới qua nửa năm 2012, mục tiêu giảm lãi suất đã “hết hạn mức”. Liệu mục tiêu giảm lãi suất có thay đổi hay không vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ. Vấn đề còn lại là mục tiêu giảm lãi suất có đạt được hay không lại trở thành câu hỏi mới.

TTCK luôn nhìn vào xu hướng tương lai, và với những số liệu hiện tại, tương lai chưa có gì là chắc chắn tốt. Vào thời điểm hiện tại, mối lo ngại của TTCK không phải là thiếu tiền, mà là vấn đề năng lực của DN không hấp thụ nổi, từ đó liên quan đến nợ xấu. Nếu NH bơm tiền cho vay dưới chuẩn, hậu quả sẽ còn khủng khiếp hơn trong dài hạn.

Do đó các NH không hạ chuẩn cho vay, đồng nghĩa với việc DN cần thì không đủ năng lực vay, rủi ro quá cao. Lãi suất liên NH từ giữa tháng 5 vừa qua đã giảm xuống còn 3-4%/năm, doanh số sụt giảm. Đây không phải là tín hiệu dư thừa thanh khoản, mà là tín hiệu ứ đọng vốn quá nhiều

Mối lo tăng trưởng

TTCK có hiệu ứng rất tích cực với triển vọng cũng như thực tế giảm lãi suất vì sự nới lỏng tiền tệ thường dẫn đến sự dư thừa tiền mặt, từ đó kích thích giá tăng ở các thị trường tài sản khác, trong đó có chứng khoán. Mối quan hệ này được duy trì cho đến lần giảm lãi suất thứ hai trong tháng 4, từ 13%/năm về 12%/năm. Tuy nhiên lần giảm lãi suất thứ ba vào cuối tháng 5, từ 12%/năm về 11%/năm đã không còn tạo được hiệu ứng như trước nữa. Tại sao vậy?

Tín hiệu đầu tiên của thị trường phản ứng ngược với thông tin vĩ mô là câu chuyện CPI. Mới cách đây 3 tháng, khi CPI có dấu hiệu giảm tốc, thị trường đã hưởng ứng rất tích cực vì CPI giảm đồng nghĩa với khả năng giảm lãi suất. Nhưng khi CPI tháng 5 ở mức 0,18% so với tháng trước, thị trường đã bắt đầu “trơ” và không hề có phản ứng tăng điểm đáng chú ý nào.

Không phải thị trường đánh giá thấp tình trạng lạm phát được kiềm chế và lãi suất giảm, mà một mối lo ngại lớn hơn đã lấn át: Tình trạng kinh tế tăng trưởng trì trệ, DN không còn khả năng sản xuất kinh doanh nữa. Khi nền kinh tế trì trệ, CPI thấp, lãi suất thấp là vô nghĩa. Mối lo ngày đã dẫn đến một chỉ báo mới quan trọng hơn CPI hay lãi suất: Con số tăng trưởng tín dụng.

Theo một thông tin được trích dẫn trên báo chí, mức tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến hết tháng 5.2012 là -0,89%. Tăng trưởng tín dụng âm nghĩa là tiền không thể cung ra nền kinh tế được. Khi tiền đã không ra được thì vấn đề thanh khoản, hay lạm phát thấp, lãi suất giảm cũng không có ý nghĩa. Một ước tính của Ngân hàng (NH) HSBC vừa công bố cho rằng tín dụng chỉ tăng khoảng 13% trong năm nay, thấp hơn nhiều hạn mức 17% dự kiến.

Chừng nào mức tăng trưởng tín dụng chưa được cải thiện thì TTCK còn suy giảm, vì đánh giá về triển vọng tương lai là u ám. Bất chấp NH có khả năng bơm tiền ra dồi dào, DN không thể hấp thụ được, tồn kho tăng quá cao, sức mua trì trệ thì tăng trưởng sẽ còn chậm lại.

Nâng sức cầu tiêu dùng, giúp DN giải phóng hàng tồn kho, giải quyết nợ xấu trong hệ thống NH, cung vốn đúng chỗ giúp tăng trưởng cao hơn tránh lạm phát cho các năm sau không phải là vấn đề có thể giải quyết trong ngắn hạn vài tháng. Ngay cả khi vấn đề được giải quyết, độ trễ của chính sách cũng sẽ còn khiến TTCK ảm đạm thêm một thời gian nữa.

Hoàng Nguyên (theo Lao động)

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.460 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.520 23.700 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.400 23.650 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.670 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.490 23.660 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.495 23.680 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.480 23.640 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.520 23.650 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.050
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.050
48.050
Vàng SJC 5c
47.050
48.070
Vàng nhẫn 9999
44.350
45.550
Vàng nữ trang 9999
45.550
45.350