Thị trường tháng 3 bị tác động tiêu cực vì đại dịch Covid-19

15:10 | 08/04/2020

Nếu như các kịch bản kinh tế đưa ra trong tháng 2 chủ yếu ở mức độ đánh giá thiệt hại kinh tế trước sự gián đoạn chuỗi cung ứng và giảm tốc mạnh của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là Trung Quốc thì sang tháng 3, các kịch bản này đều đã không còn phù hợp. Đại dịch Covid-19 như một cơn bão càn quét khắp các châu lục với tốc độ kinh hoàng trong tháng 3, và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại cho đến thời điểm này của tháng 4.

Kinh tế toàn cầu đối mặt với rủi ro chưa từng có tiền lệ

Theo báo cáo theo dõi thị trường tài chính tiền tệ do Trung tâm Phân tích và tư vấn Đầu tư khách hàng cá nhân (Công ty SSI) vừa công bố, trong tháng 3, đại dịch này đã khiến hầu hết các hoạt động đều tê liệt khiến nền kinh tế toàn cầu đối mặt với rủi ro chưa từng có tiền lệ.

Bóng đen suy thoái bao trùm; Chỉ số sản xuất PMI giảm xuống dưới 50 ở hầu hết các nước; Lợi tức TPCP giảm xuống vùng thấp chưa từng có, thậm chí có thời điểm lợi tức TPCP Mỹ kỳ hạn 3 tháng còn chuyển sang mức âm; Thị trường chứng khoán toàn cầu đối mặt với làn sóng bán tháo, với chỉ số đo lường sự sợ hãi (VIX – CBOE) có thời điểm tăng lên tới 82, cao hơn cả thời điểm khủng hoàng 2008…

Dòng tiền tháo chạy khỏi tất cả các tài sản kể cả các tài sản an toàn như vàng, JPY để tìm kiếm thanh khoản. Trong bối cảnh đó, USD với vai trò là đồng tiền toàn cầu đã trở thành điểm đến hấp dẫn. Chỉ số DXY tăng liên tục từ đầu tháng và đạt đỉnh 102,8 vào ngày 20/3. Vào tuần cuối tháng 3, chỉ số đồng USD có điều chỉnh giảm (về mức 99) do dịch bệnh lan rộng tại Mỹ nhưng DXY vẫn có khả năng tặng mạnh trở lại do diễn biến phức tạp của dịch bệnh trên toàn cầu. 

Bên cạnh các biện pháp hành chính như hạn chế đi lại, đóng cửa biên giới, phong tỏa các ổ dịch…, các Chính phủ, NHTW các nước cũng tung ra những gói nới lỏng mạnh để hỗ trợ kinh tế.

Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) có 2 lần giảm khẩn cấp lãi suất cơ bản trong tháng 3, mức giảm tổng cộng 150bps; giảm tỷ lệ DTBB xuống 0%, kích hoạt một loạt công cụ hỗ trợ thanh khoản, ban hành gói nới lỏng định lượng không giới hạn… Cùng với FED là 60 NHTW khác cũng công bố giảm lãi suất điều hành trong đó nhiều nước giảm 2-3 lần trong tháng như Úc, Anh, Canada, Hồng Kông…

Cùng với nới lỏng chính sách tiền tệ là các gói tài khóa lớn chưa từng có để kích thích nền kinh tế. Bao gồm gói 2.000 tỷ USD của Mỹ; 800 tỷ EUR của Đức; 276 tỷ USD của Nhật; 50 tỷ USD của Úc; 57 tỷ USD của Canada… Nhiều quốc gia còn hỗ trợ trực tiếp bằng cách đưa tiền mặt cho người dân, chủ yếu là các nền kinh tế phát triển giàu có như Mỹ, Singapore, Hong Kong… nhưng cũng có nước đang phát triển như Thái Lan.

Áp lực quốc tế và diễn biến dịch bệnh khiến tỷ giá USD/VND tăng

Sau 3 tuần liên tiếp không phát sinh ca nhiễm Covid nào mới và toàn bộ 16 bệnh nhân trước đó đã bình phục, tình hình dịch bệnh ở Việt Nam bất ngờ phức tạp từ ngày 7/3 do sự bùng phát dịch trên toàn cầu và làn sóng người Việt trở về nước tránh dịch. Việt Nam đã áp dụng các biện pháp khẩn cấp như tạm dừng khai thác tất cả các đường bay thương mại quốc tế từ 25/3 cho đến cuối tháng 4/2020; cách ly tập trung với toàn bộ hành khách nhập cảnh qua sân bay; tuyên bố cách ly xã hội trên toàn quốc từ 1/4 đến 15/4/2020…

Tỷ giá, một chỉ báo tiền tệ rất nhạy, đã bắt đầu dao động sau một thời gian dài ổn định. Tỷ giá trên ngân hàng tăng 390 đ/USD chiều mua vào và 410 đ/USD chiều bán ra, lên mức 23.530/23.720; tỷ giá tự do tăng 460 đ/USD chiều mua và 520 đ/USD chiều bán ra, lên mức 23.710/23.790. Chênh lệch tỷ giá bán ra - mua vào trên ngân hàng lên tới 210 đ/USD.

Tính chung cả tháng, tỷ giá mua trên ngân hàng và tự do tăng lần lượt là 1,7% và 2% MoM. VND có đợt giảm giá mạnh nhất kể từ tháng 6/2018, khi nổ ra cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Tỷ giá trung tâm điều chỉnh tăng 11 đ/USD, lên mức 23.235 đ/USD.

Tuy nhiên, tỷ giá tăng chủ yếu do các biến số ngắn hạn như nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trên thị trường chứng khoán để rút vốn cùng với đồng USD tăng giá mạnh trên toàn cầu. Còn nhìn một cách tổng thể, cung - cầu ngoại tệ trong nước vẫn ở trạng thái ổn định.

Trên liên ngân hàng, lãi suất VND vẫn cao hơn khá nhiều lãi suất USD. Vốn FDI giải ngân trong tháng 3/2020 đạt 1,4 tỷ USD, lũy kế đạt 3,85 tỷ USD trong quý I/2020, tuy giảm 6,6% YoY nhưng cũng là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh dịch bệnh hiện tại. Thặng dư thương mại tháng 3 ước tính đạt 1 tỷ USD và lũy kế từ đầu năm thặng dư 2,8 tỷ USD, tăng 68% YoY.

Để bình ổn thị trường, NHNN đã phát đi thông điệp sẵn sàng bán ngoại tệ quy mô lớn ở tỷ giá thấp hơn tỷ giá niêm yết và hạ tỷ giá bán xuống 23.650 đ/USD, giảm 221 đ/USD (tương đương 0,93%) so với cuối tháng 2. Với dự trữ ngoại hối gần 85 tỷ USD, NHNN có đủ tiềm lực và kinh nghiệm để ổn định thị trường, do đó tỷ giá nhiều khả năng sẽ đi ngang trong vùng hiện tại trừ khi có những thay đổi lớn về bối cảnh dịch bệnh trong nước.

Đẩy nhanh giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế

NHNN đánh giá sơ bộ có 926 nghìn tỷ đồng dư nợ của 23 NHTM có khả năng quá hạn do ảnh hưởng của dịch bệnh, chiếm 11% tổng dư nợ. Để hỗ trợ nền kinh tế và các doanh nghiệp, NHNN đã giảm một loạt các lãi suất điều hành kể từ 17/3/2020 gồm: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay thanh toán bù trừ liên ngân hàng giảm 100bps; lãi suất OMO, lãi suất cho vay tái chiết khấu giảm 50bps; trần lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm từ 25-30bps; trần lãi suất cho vay ngắn hạn với 6 ngành ưu tiên giảm 50bps; tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc 20bps.

Tuy vậy, tác động của lãi suất điều hành ở Việt Nam tới lãi suất thị trường không nhiều và có độ trễ lớn. Trong bối cảnh nhiều hoạt động kinh tế đang đình trệ, việc giải ngân mới rất hạn chế, các biện pháp cơ cấu thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí với các hợp đồng vay hiện có sẽ có tác động thiết thực hơn.

Ngày 31/3/2020, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về các giải pháp cấp bách của ngành Ngân hàng nhằm tăng cường phòng, chống và khắc phục khó khăn do tác động của dịch Covid-19. Nhiều NHTM đã công bố giảm lãi suất cho vay từ 0,5-2%/năm so với trước dịch đối với cả khoản vay hiện hữu và vay mới từ 1/4/2020 để hỗ trợ các khách hàng chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19. Như vậy, vùng lãi suất cho vay sẽ giảm từ 9-11%/năm xuống khoảng 7-9%/năm, cá biệt một số NHTM áp dụng mức lãi suất cho vay chỉ 4,5-5%/năm với những khách hàng sản xuất các mặt hàng thiết yếu.

Đầu ra tín dụng hạn chế và thu nhập lãi chịu áp lực giảm mạnh, các NHTM cần giảm chi phí huy động vốn để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận. Lãi suất tiền gửi cũng đã được điều chỉnh giảm ở hầu hết các ngân hàng nhưng mức giảm chỉ khoảng 30-50bps, vẫn thấp hơn khá nhiều so với lãi suất cho vay. Với tình hình dịch bệnh phức tạp như hiện tại, lãi suất tiền gửi có thể tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Trên liên ngân hàng, NHNN hút ròng 24 nghìn tỷ đồng trong tháng 3 nhưng cơ quan điều hành đã có tín hiệu chuyển sang bơm ròng khi ngừng phát hành tín phiếu trong 3 tuần cuối và chuyển sang bơm tiền qua OMO. Lãi suất liên ngân hàng đi ngang, chốt tháng ở mức 2,36%/năm với kỳ hạn qua đêm và 2,47%/năm với kỳ hạn 1 tuần, vẫn cao hơn so với lãi suất USD từ 1,4-1,6%/năm.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.160 23.350 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.175 23.345 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.164 23..374 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.160 23.360 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.420
48.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.420
48.770
Vàng SJC 5c
48.420
48.790
Vàng nhẫn 9999
47.550
48.200
Vàng nữ trang 9999
47.200
48.000